Thứ Ba, 28 tháng 6, 2011

[Thơ sưu tầm] Đối sánh vua Quang Trung - Lớp 9

Hì, post hết kho văn viết máy lưu trong folder rồi, bây giờ người viết xin post tiếp những bài thơ sưu tầm được trên mạng để làm đối sánh đưa vào tập làm văn (cho nó hay, phong phú, cao điểm,...) Gì chứ mấy bài thơ đối sánh này cũng tốn của người viết kha khá thời gian lục lọi trên mạng... Hi vọng nó giúp ích cho các sĩ tử tương lai! ^^ 
Mở đầu là đối sánh cho hình tượng vua Quang Trung trong Hoàng lê nhất thống chí nhé :)




Bài ca Bình Bắc (Vũ Hoàng Chương)

Than ôi!
Dòng Côn thuỷ mây lồng thức gấm, mãn vui tình mai liễu độ xuân;
Đỉnh Trường Sơn gió cuộn sóng tùng, chạnh tưởng đức anh hùng cứu quốc.

Nhớ tôn linh xưa:
Khí cốt lăng tằng,
Anh tư khôi đặc.

Sức điều binh khiển tướng, Hạng Võ Lưu Bang,
Lòng trọng sĩ tôn hiền, Văn Vương Huyền Đức.

Tình đất nước giận cơn chia xẻ, lưỡi gươm thần dẹp loạn cứu dân;
Nghĩa Bắc Nam trải dạ gắn hàn, thân áo vải giúp anh dựng nước.

Quy Nhơn biển lặng, rực rỡ ánh tường vân,
Thuận Hoá trời cao, chói chang vầng bạch nhật.

Xiêm phê áp phủ, trên chín trùng toan mối trị bình,
Vút dũa nanh mài, ngoài muôn dặm rắp tâm xâm lược.

Cõng rắn tội kìa ai?
Bắt hùm tay sẵn chước.

Tế trời đất đàn Giao cao vút núi, bóng tinh kỳ sáng dội buổi đăng quang,
Nhìn non sông khí giận ngất từng mây, tiếng hiệu lịnh sấm vang giờ xuất phát.

Hùng binh mười vạn hăng hái hy sinh!
Chiến tượng hai trăm trinh tường trận mạc.

Lòng một quyết ra tay hùng hổ, hẹn nước non ca khúc khải hoàn sau.
Chỉ mười ngày dẹp giống lũ sài lang, cùng tướng sĩ chung vui nguyên đán trước.

Cạn lời uỷ lạo, trống dục cờ giong,
Dốc dạ truy tuỳ, non băng biển vượt.

Ngày ba mươi tháng chạp, sông Giản Thuỷ dồn binh,
Đêm mồng ba tháng giêng, đồn Hà Hồi hãm giặc.

Đánh trận này tiếp trận khác, sấm dậy chớp giăng;
Xong đồn nọ tới đồn kia, khói tan đá nát.

Khuya mồng bốn gió sương mờ mịt, đốt lương rừng lửa đỏ, khiến ba quan liều chết chớ lui;
Sáng mồng năm voi ngựa sẵn sàng, quấn cổ thước khăn vàng, quyết một trận chẳng hơn thì thác.

Thế giặc dẫu binh đông tướng dữ, thuốc súng chôn quanh thành, chông sắt cắm khắp luỹ, thêm bốn bề đạn rạc rào mưa;
Quân ta nhờ trí sáng gan bền, ván dày cột thành cốt, rơm ướt phủ làm bì, hò một rập sức cuồn cuồn thác.

Ầm tiếng pháo, Ngọc Hồi kíp hạ, sông máu láng lai;
Thúc chân voi, Khương Thượng liều thân, núi thây chồng chất.

Nghi Đống liệu khôn bề sống sót, vội vàng treo cổ Đống Đa!
Sĩ Nghị may tìm được lối ra, hớt hãi thoát thân mạn Bắc.

Ngoài ải sói gió tan múi sát khí, niềm hân hoan nhuộm thắm mặt sơn xuyên;
Vào Thăng Long cờ rợp bóng vinh quang, áo chiến thắng phủ đen hồn đạn dược.

Mười ngày hẹn trước, trời đất chứng lời vàng,
Hai bận vui xuân, cỏ hoa lồng tiệc ngọc.

Lửa tạnh hề biên cương,
Nền cao hế xả tắc.

Tiếng anh dũng nước mây lừng lẫy sấm, triều Mãn Thanh bóp bụng sống chung trời;
Chí đấu tranh son sắt vững vàng non, niềm Lưỡng Quảng quyết tâm đòi lại đất.

Nhưng than ôi!
Tấm gan rèn đá, trời chửa vá xong;
Đỉnh Ngự chìm mây, rồng sao vội khuất!

Cơ cường thịnh thiếu tay xếp đặt,
Cửi dòn thoi phút để mối tơ chùng!

Nghiệp đế vương đuối sức giữ gìn,
Thuyền thuận bến trúc theo cơn gió lật!

Trời Phú Xuân sương gió lạnh lùng!
Bến Thị Nại bèo mây tản móc!

Bút chép sử múa men tay đắc thế: trang oanh liệt son nhoà!
Nền ghi ân khuất lấp bóng cô thôn: gương anh hùng thuỷ nhạt!

Nối chí cả người sau toan lấp hận,
Lao công Tinh Vệ ngậm ngùi thương.

Gìn dấu linh chốn cũ khó nguôi tình,
Lắng giọng đề quyên tê tái ruột.

Cũng may thay!
Lẽ tuần hoàn trời đất chẳng ngừng xoay,
Ách chuyên chế giống nòi nay đã thoát.

Trăng hào kiệt bấy lâu u ám, ngọn đông phong mát mẻ vén màn sương;
Vườn anh hoa đua nở tự do, bút thanh nghị ngọt ngào rơi giọt móc.

Chúng tôi nay:
Chung gội ơn xuân,
Kính dâng lễ bạc.

Non xanh nước biếc, khí anh tú mơ màng,
Nội thắm ngàn xa, hương tinh thành bát ngát.

Dòng lịch sử mở ra ôn lại, dịu dàng chữ gấm dệt lời hoa,
Tranh vĩ nhân trải rộng xem chung, lộng lẫy chỉ vàng treo bóng ác.

Hầm Hô con cá nhảy, trong bóng mây thấp thoáng bóng rồng,
Trưng Lĩnh cánh diều bay, theo tiếng gió lẫy lừng tiếng nhạc.

Linh thiêng xin chứng.

Kể từ đấy
Mặt trời mọc ở phương Ðông, ngùn ngụt lửa
Mặt trời lặn ở phương Ðoài, máu chứa chan
Đã sáu mươi ngàn lần …
Và từ đấy cũng sáu mươi ngàn lần
Trăng tỏ bóng nơi rừng cây đất Bắc
Trăng mờ gương nơi đồng lúa miền Nam
Ruộng dâu kia bao độ sóng dâng tràn
Hãy dừng lại thời gian
Trả lời ta - Có phải?
Dưới vầng nguyệt lạnh lùng quan ải
Dưới vầng dương thiêu đốt quan san
Lớp hưng phế xô nghiêng từng triều đại
Mà chí lớn dọc ngang
Mà nghiệp lớn huy hoàng
Vẫn ngàn thu còn mãi
Vẫn ngàn thu người áo vải đất Quy Nhơn

Ôi người xưa Bắc Bình Vương
Ðống Ða một trận năm đường giáp công
Ðạn vèo năm cửa Thăng Long
Trắng gò xương chất, đỏ sông máu màng
Chừ đây lại đã xuân sang
Giữa cố quận một mùa xuân nghịch lữ
Ai kia lòng có mang mang
Ðầy vơi sầu xứ - Hãy cùng ta
Ngẩng đầu lên, hướng về đây tâm sự
Nghe từng trang lịch sử thét từng trang

Một phút oai thần dậy sấm
Tan vía cường bang
Cho bóng kẻ ngồi trên lưng bạch tượng
Cao chót vót năm mầu mây chiêm ngưỡng
Dài mênh mông vượt khỏi lũy Nam Quan
Và khoảng khắc
Ðổ xuôi chiều vươn ngược hướng
Bao trùm lên đầu cuối thời gian
Bóng ấy đã ghi sâu vào tâm tưởng
Khắc sâu vào trí nhớ dân gian
Một bành voi che lấp mấy ngai vàng

Ôi Nguyễn Huệ người anh hùng áo vải
Muôn chiến công, một chiến công dồn lại
Một tấm lòng, muôn vạn tấm lòng mang
Ngọn cờ vung, bao tính mệnh sẵn sàng
Người cất bước, cả non sông một dải
Vươn mình theo – dãy Hoành Sơn mê mải
Chạy dọc lên thông cảm ý ngang tàng
Cùng chồm dậy đáp lời hô vĩ đại
Chín con rồng bơi ngược Cửu Long Giang
Người ra Bắc, oai thanh mờ nhật nguyệt
Khí thế kia làm rung động càn khôn
Lệnh ban xuống, lời lời tâm huyết
Nẻo trường chinh ai dám bước chân chồn
Gươm thiêng cựa vỏ
Giặc không mồ chôn
Voi thiêng chuyển vó
Nát lũy tan đồn
Ôi một hành ca hề, gào mây thét gió
Mà ý tướng, lòng quân hề, bền sắt tươi son

Hưởng ứng sông hồ giục núi non
“Thắt vòng vây lại” tiếng hô giòn
Tơi bời máu giặc, trăng liềm múa
Tan tác xương thù, ngựa đá bon

Sim rừng, lúa ruộng, tre thôn
Lòng say phá địch, khúc dồn tiến quân
Vinh quang hẹn với phong trần
Ðống Ða gò ấy mùa xuân năm nào

Nhớ trận Ðống Ða hề thương mùa xuân tới
Sầu xuân vời vợi
Xuân tứ nao nao
Nghe đêm trừ tịch hề, máu nở hoa đào
Ngập giấc xuân tiêu hề, lửa trùm quan tái
Trời đất vô cùng hề, một khúc hát ngao
Chí khí cũ gầm trong da thịt mới
Vẳng đáy sâu tiềm thức, tiếng mài dao
Ðèo Tam Ðiệp hề, lệnh truyền vang dội
Sóng sông Mã hề ngựa hí xôn xao
Mặt nước Lô Giang hề, là trầm biếc khói
Mây núi Tản Viên hề, lọng tía giương cao
Rằng: “Ðây bóng kẻ anh hào
Ðã về ngự trên ngã ba thời đại”
Gấm vóc giang sơn hề, còn đây một dải

Thì nghiệp lớn vẻ vang
Thì mộng lớn huy hoàng
Vẫn ngàn thu còn mãi
Ôi ngàn thu người áo vải đất Quy Nhơn

Nay cuộc thế sao nhòa, bụi vẩn
Lũ chúng ta trên ngã ba đường
Ghi ngày giỗ trận
Mơ BẮC BÌNH VƯƠNG
Lòng đấy thôn trang hề, lòng đây thị trấn
Mười ngã tâm tư hề, một nén tâm hương
Ðồng thanh rằng: “Quyết noi gương”

Ðể một mai bông thắm cỏ xanh rờn
Ca trống trận thôi lay bóng nguyệt
Mừng trời đất gió bụi tan cơn
Chúng ta sẽ không hổ với người xưa
Một trận Ðống Ða nghìn thu oanh liệt
Vì ta sau trước lòng kiên quyết
Vàng chẳng hề phai, đá chẳng sờn.

____________________________________


Văn tế vua Quang Trung – Ngọc Hân công chúa

Than rằng:
Chín từng ngọc sáng bóng trung tinh, ngoài muôn dặm vừa cùng trông vẻ thuỵ;
Một phút mây che vầng Thái Bạch, trong sáu cung thoắt đã nhạt hơi hương.

Tơ đứt tấc lòng ly biệt;
Châu sa giọt lệ cương thường.

Nhớ phen bến Nhị thuận buồm, hội bái việt chín châu lừng lẫy;
Vừa buổi cầu Ngân sẵn nhịp, đoàn ỷ la đôi nước rõ ràng.

Hôn cấu đã nên nghĩa cả;
Quan san bao quản dặm trường.

Nhờ lượng trên cũng muốn tôn Chu, tình thân hiếu đã ngăn chia đôi nước;
Song thế cả trót đà về Hán, hội hỗn đồng chi cách trở một phương ?

Lòng dẫu xót thấy cơn cách chính;
Thân lại nhờ gặp hội hưng vương.

Thành Xuân theo ngọn long kỳ, đạo tề trị gần nghe tiếng ngọc;
Cung Hữu rạng mầu địch phất, tình ái ân muôn đội nhà vàng.

Danh phận ấy cậy vun trồng mọi vẻ;
Nề nếp xưa nhờ che chở trăm đường.

Ơn sâu nhuần gọi cỏ cây, chốn lăng tẩm chẳng phạm chồi du tử;
Lộc nặng thơm tho hương khói, nơi miếu đường nào khuyết lễ chưng thường.

Mọi nỗi, mọi nhờ trọn vẹn;
Một điều, một được vẻ vang.

Phép hằng gìn hạc thược, tước thoa, buồng quế rạng khuôn Nội Tắc;
Điềm sớm ứng Chung Tư, Lân Chỉ, Phái Lam thêm diễn thiên hoàng.

Mảy chút chưa đền đức cả;
Gót đầu đều trọn ơn sang.

Đền Vị Ương bóng đuốc bừng bừng, lòng cần mẫn vừa khi dóng dả.
Miền Cực Lạc xe mây vùn vụt, duyên hảo cầu sao bỗng dở dang ?

Ôi!
Gió lạnh buồng đào, rơi cầm nẩy sắt;
Sương pha cung đỏ, hoen phấn mờ gương.

Tiệc vầy vui nhớ hãy rành rành, nhịp ca múa bỗng khuây chừng Thần Ngự.
Buổi chầu chực tưởng còn phảng phất, chuông điểm hồi sao vắng chốn Cảnh Dương.

Vấn vít bấy, bảy năm kết phát;
Đau đớn thay, trăm nỗi đoạn trường.

Hé nhà sương ngắm quyển cung châm, tiếng chi phất hãy mơ màng trên gối.
Nương hương nguyệt, ngẫm lời đình chỉ, bóng thuý hoa còn phấp phới bên tường.

Hang núi cũng phàn nàn đòi chốn;
Cỏ hoa đều sùi sụt mấy hàng!

Liều trâm ngọc mong theo chốn châu du, da tóc trăm thân nào có tiếc.
Ôm cưỡng bảo luống ngập ngừng di thể, sữa măng đôi chút lại thêm thương.

Tiếc thay!
Ngày thoi thắm thoắt;
Bóng khích vội vàng.

Thuyền ngự toạ đã ngang ghềnh Thái Thuỷ!
Bóng long xa thẳng trỏ lối tiên hương.

Nẻo hoàng tuyền xa cách mấy trùng, ngao ngán thêm ngừng cơn biệt duệ.
Chén hoàng thuỷ kính dâng một lễ, xét soi xin thấu cõi minh dương.

[Văn tự làm] Kiều ở lầu Ngưng Bích - Lớp 9


Bây giờ đã hoàn thành xong thi cử, khổ chủ xin được mạn phép post một số bài văn của mình lên. Bài này được khổ chủ viết trong thời gian ôn tập thi lớp 10, thời điểm gấp gáp nên tất nhiên sẽ không tránh khỏi sai sót cũng như những lỗi chính tả không đáng có. Mong mọi người đọc và góp ý chân thành.
 
Các bài văn do người viết tự làm sẽ được đặt trong dấu [Văn tự làm] để phân biệt với nguồn văn kiếm trên mạng [Văn tham khảo], mọi người chú ý nhé!  
 
Note: Copy bài sang nơi khác làm ơn xin ghi rõ nguồn và tác giả là Yunari!!!!!!! Xin hãy tự trọng và tôn trọng tác giả một chút!!!

Vài lời muốn nói, bây giờ xin mời mọi người tham khảo. Comment cho tớ nhé ^^

Phân tích đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”



Nguyễn Du_ nhà đại thi hào của dân tộc Việt Nam, đã để lại cho đời rất nhiều những tác phẩm chứa đầy tâm huyết. Trong số đó, “Truyện Kiều” hay “Đoạn trường tân thanh” là tác phẩm tuyệt vời nhất, có khả năng đi vào tâm tưởng hàng bao thế hệ già trẻ, lay động trái tim những con người yêu thơ. Qua “Truyện Kiều”, Nguyễn Du đã gởi gắm vào đó bao nhiêu là tâm tư, tình cảm, dẫn người đọc cùng đi trên hành trình tư tưởng của mình, đưa ta qua những cung bậc cảm xúc khác nhau, từ cái ngỡ ngàng này tới cái ngỡ ngàng khác. Trong đó, người đọc không khỏi ngỡ ngàng trước nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật và phép tả cảnh ngụ tình tài ba của ông qua đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”.

Đoạn trích nằm ở phần giữa của tác phẩm, và dưới ngòi bút điêu luyện cùng tấm lòng thương người, thông cảm cho thân phận người của Nguyễn Du, đoạn trích đã gợi tả một cách đầy cảm động tâm trạng cô đơn, buồn tủi cũng như tấm lòng thủy chung, hiếu thảo của Kiều.

Nửa đêm qua huyện Nghi Xuân
Bâng khuâng nhớ cụ, thương thân nàng Kiều
Hỡi lòng tê tái thương yêu
Giữa dòng trong đục, cánh bèo lênh đênh.

Số phận nàng Kiều lận đận, đớn đau đến mức nhà thơ Tố Hữu đã ví như cánh bèo lênh đênh, bơ vơ lờ lững giữa dòng đời trong đục. Cuộc đời nàng trước nay vốn ấm êm yên bình, nay lại bị cuốn theo vòng xoay của cơn bão dữ. Bao biến cố khủng khiếp xảy ra: gia đình bị vu oan, cha và em lâm vào cảnh tù tội, còn nàng sau khi tự nguyện bán thân đã bị đẩy vào chốn lầu xanh sống cuộc đời tủi nhục. Sau khi tìm đến cái chết không thành công, Thúy Kiều bị đem ra giam ở lầu Ngưng Bích, một nơi hoang vắng quạnh quẽ, bóng người hiếm hoi, nơi mà nàng chỉ có thể sống trong cô đơn, tự mình gặm nhấm nỗi buồn của chính mình.

Những dòng thơ đầu của đoạn thơ như mở ra một không gian bao la rộng lớn, nơi của một không gian nghệ thuật và một tâm trạng nghệ thuật đồng hiện, nơi cảnh vật và tâm tình tìm được tiếng nói chung, tiếng nói của một trái tim đơn côi, một tâm hồn lạnh lẽo:

Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân,
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung.
                                                                                                      
Ở một mình chốn lầu Ngưng Bích bơ vơ trơ trọi, với lời dụ dỗ ngọt ngào của bọn buôn người bất nhân_ Tú Bà nói “Con hãy thong dong…Trên đầu có bóng mặt trời rạng soi”_ nhưng thực chất lại là một hình thức giam cầm, như ý nghĩa của hai từ “khóa xuân” mang đầy vẻ mỉa mai, trách móc. Từ một cuộc sống êm đềm ấm áp bên gia đình, bên người yêu, bỗng chốc bao nhiêu tai ương ập đến vùi dập thân phận nàng tả tơi với sóng trôi bể nổi, cuối cùng lại bị đưa đến lầu xanh rồi bị đem ra lầu Ngưng Bích giam lỏng, đối với Kiều, đó thật sự là một cú sốc rất lớn, một mất mát vô cùng nặng nề về mặt tinh thần. Trong cảnh ngộ cô đơn éo le ấy, nàng chỉ còn biết trải lòng mình lên cảnh vật, gửi gắm tâm hồn vào thiên nhiên, lắng nghe tiếng thổn thức phát ra từ tận đáy con tim. Cảnh tượng nơi lầu Ngưng Bích này thật đẹp: có núi non xa, vầng trăng gần đều hút chung vào tầm mắt. Hai từ ngữ đối lập “xa – gần” cùng từ “ở chung” như góp phần hoàn thiện thêm cái cạnh tượng thật nên thơ nhưng cũng thật quạnh quẽ phía trước lầu.

Bốn bề bát ngát xa trông,
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia.
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.

Trông ra bốn bề, nàng thấy một không gian rộng lớn bát ngát hiện lên. Nghệ thuật đảo ngữ ở đây làm ta cảm nhận rõ hơn cái rộng lớn của cảnh vật, cũng như cái trống trải của tâm hồn Thúy Kiều. Nhìn xa nhìn gần là những cồn cát vàng trải dài vô tận, là những dặm bụi hồng xa xôi ngút ngàn. Các vế câu đối xứng nhau cùng những cặp từ “nọ - kia, xa – gần” như đợt sóng dồi tầng tầng lớp lớp trong tâm trí, xô đẩy thêm nữa cái tâm trạng lộn xộn của người con gái. “Bẽ bàng” trước mặc cảm xấu hổ, chìm đắm trong tủi nhục, trong cái vòng tuần hoàn ước lệ “mây sớm đèn khuya”, Kiều còn bị giằng xé cực độ giữa nét buồn của cảnh và cái ngổn ngang của tình, mạnh đến mức muốn “chia tấm lòng” nàng thành hai nửa. Một nửa phiêu diêu theo khung cảnh trống trải, một nửa ở lại với mảnh tình đơn côi. Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình của tác giả thật vô cùng đặc sắc, diễn tả thật cảm động nỗi buồn và tình cảnh éo le của Kiều. Tình cảnh nàng Kiều lúc này thật chẳng khác gì sống trong địa ngục: thân xác bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, tâm hồn bị giam cầm trong vòng xoay khép kín của thời gian sớm - tối, và tình cảm thì bị giam hãm trong mớ tơ lòng rối bời. Phận nàng mới đáng thương làm sao!

Trong cảnh ngộ đớn đau ấy, trong tim người con gái bỗng trào dâng một nỗi nhớ thương da diết. Từng trang ký ức của quãng thời gian yên bình, của một thời sống ấm êm bên gia đình, người thân được nàng Kiều chậm rãi lật lại, và cũng từ từ nhen nhóm trong lòng nàng niềm nhớ nhung man mác mà dai dẳng khôn nguôi.

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,
Tin sương luống những rày trông mai chờ.
Bên trời góc bể bơ vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.

Nàng nhớ về Kim Trọng_ mối tình đầu trong sáng ngây thơ, hạnh phúc, ngọt ngào chỉ vừa mới bắt đầu đã đột ngột kết thúc. Hình ảnh ẩn dụ “người dưới nguyệt chén đồng” đã nói lên tất cả những chua xót trong lòng Thúy Kiều. Mới ngày nào cả hai còn cùng nhau nói lời thề nguyền dưới trăng, đã “Đinh ninh hai mặt một lời song song”, đã cùng nhau nhấp cạn chén rượu tình chung “Chén hà sánh giọng quỳnh hương” thì hôm nay mỗi người đã lẻ loi ở một nơi khác nhau. Kim Trọng về quê chịu tang chú còn nàng phải “Bên trời góc bể bơ vơ” chốn lầu Ngưng Bích quạnh vắng cô đơn. Nỗi nhớ đan xen cùng nỗi nhớ. Và cái cảm giác có lỗi với người yêu cứ lẫn vào nhau, quấn lấy tâm trí nàng. Bất hạnh ập đến quá nhanh, chia ly mà chẳng kịp nói lên lời từ biệt. Lòng nàng bỗng quặn đau khi nghị đến chàng Kim đang mỏi mòn chờ đợi tin tức mình, cũng như nàng lúc này vẫn còn ngóng trông tin tức người yêu. Xót cho Kim Trọng mải chờ đợi mình, xót cho cái tình cảm ấm nồng mà sớm bị chia xa, Kiều càng xót hơn nữa cho cái thân phận bèo bọt nổi trôi, phải bất đắc dĩ mà mang danh bội thề phụ nghĩa của mình. Tuy vậy, nàng vẫn cố tự nhủ rằng tấm lòng son sắt thủy chung của nàng sẽ không bao giờ thay đổi dù trải qua biến chuyển của thời gian, không bao giờ phôi pha dù có gột rửa như thế nào, và dù rằng giờ đây nàng tự thấy mình không còn xứng với Kim Trọng nữa.

Nỗi nhớ được Kiều chuyển từ Kim Trọng sang gia đình, người thân. Mặc dù đã tự nguyện bán thân lấy tiền cứu cha và em, mặc dù gia đình đã thoát khỏi cảnh tù tội, bên trong lòng Kiều vẫn canh cánh một niềm thương khôn xiết, một nỗi nhớ cay đắng đến xót xa:

Xót người tựa cửa hôm mai,
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm.

Các từ ngữ chỉ thời gian xa cách “hôm mai”, “cách mấy nắng mưa”, các thi liệu điển cố từ “Nhị thập tứ hiếu” ở Trung Quốc “sân Lai”, “gốc tử”, và sự xuất hiện của thành ngữ dân gian “quạt nồng ấp lạnh” càng tô đậm thêm nỗi lòng người con hiếu thảo. Kiều khắc khoải khi “nghe chim như nhắc tấm lòng thần hôn”, áy náy vì phận làm con cả mà chẳng thể nào chăm sóc, chẳng được thực hiện cái nghĩa vụ thiêng liêng “quạt nồng ấp lạnh” cho cha mẹ, dù song thân đã già yếu, dù “gốc tử đã vừa người ôm. Hình ảnh ẩn dụ “tựa cửa hôm mai” cùng tâm trạng “xót” của nàng Kiều khi nghĩ đến cha mẹ lớn tuổi vẫn mỏi mòn ngóng đợi đứa con lưu lạc xứ khác, làm lòng nàng đau quặn thắt. Ai đời phận làm con lại không thể phhụng dưỡng mẹ cha tuổi xế chiều, lại không thể ở bên hai đấng sinh thành sớm tối? Bốn câu thơ như cực tả nỗi nhớ thương cha mẹ nàng Thúy Kiều, và thật lạ thay, nỗi luyến nhớ ấy của nàng lại làm lòng ta xao xuyến, bồi hồi đến lạ.

Càng “tưởng” chàng Kim, càng “xót” cha mẹ, nàng Kiều càng buồn hơn cho số kiếp éo le, cho cảnh ngộ bị kịch của mình. Một lần nữa nàng lại gửi gắm tâm sự vào khung cảnh, như tác giả Nguyễn Du viết trong nhưng câu thơ tiếp theo. Mang cái tâm trạng sầu não ấy, Kiều đưa mắt nhìn ra cửa bể, nơi ánh hoảng hôn lênh láng phủ đầy.

Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

Không gian mênh mông nơi ánh hoàng hôn buông xuống cũng trở nên nặng nề bởi tâm trạng buồn nơi nàng Kiều. Một không gian gợi buồn, một thời gian đượm buồn, và một tâm trạng đặc quánh những nỗi buồn vô hạn. Con thuyền hiện lên “xa xa”, giữa làn nước xanh thẳm của biến cả với cánh buồm “thấp thoáng”, thoắt ẩn thoắt hiện, mờ ảo như giấc mơ nhưng lại thấm đẫm nỗi buồn thực tại. Cánh buồn ấy đi đâu và về đâu, liệu có khi nào nó sẽ dừng chân nơi quê hương nàng, nơi gia đình nàng chăng? Bằng hình ảnh cổ điển “cánh buồm” quen thuộc, nhà thơ đã khắc họa nên niềm nhớ thương quê nhà và nỗi đau của người con gái tha hương nơi đất khách, lẻ loi chốn quê người.

Nỗi buồn ấy lại như nhân đôi khi Thúy Kiều ngắm nhìn cánh hoa rã rời trôi theo dòng nước:
Buồn trông ngọn ngước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu?

Thuyền “thấp thoáng” trong khoảng không tít tắp, hoa cũng “man mác” trôi trong không gian vô định. Đóa hoa bị đẩy đưa trên “ngọn nước mới sa” ấy có khác chi đâu thân phận nổi trôi của Kiều? Kiếp sống lạc loài lẻ loi, không biết rồi đây sẽ bị đẩy đưa đến nơi nao, sẽ bị vùi dập như thế nào trớ trêu thay, chính Kiều lại là hiện thân của nó. Cánh hoa rã rời trôi trên dòng nước, như cuộc đời nàng lững lờ trôi trong dòng đời. Hoa lìa cội, lìa cành, hoa rã cánh, để mặc cho sóng nước dập dịu cuốn đi. Kiều xa nhà, xa quê, xa người thân, nhắm mắt mặc cho cái ba chìm bảy nổi chốn chợ đời lắm rình rập hiểm nguy. Điệp ngữ “buồn trông” được lặp lại thể hiện nỗi buồn dào dạt sâu thẳm: nhìn cảnh sắc hữu hình lại cảm nhận cái vô hình chất chứa_ số kiếp hoa trôi bèo nổi, lênh đênh lận đận của nàng Kiều.

Xung quanh Kiều lúc này, cảnh vật cũng như nhuốm lên mình một sắc màu héo tàn, tẻ nhạt, từ “nội cỏ” đến “chân mây mặt đất”:

Buồn trong nội cỏ rầu rầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

Ngay đến cỏ cây_ dấu hiệu của sự sống, biểu hiện của sự tồn tại cũng mạng nặng màu “rầu rầu”, “xanh xanh” héo úa tàn phai. Âm điệu thơ như phảng phất nét buồn do sử dụng nhiều vần bằng dàn trải. Không phải là một thảm cỏ xanh đầy sức sống, không phải là cái mặt đất xanh tươi ngút ngàn mà chỉ là sắc “xanh xanh” đơn điệu. Còn đâu nữa cái “cỏ non xanh tận chân trời” xanh tươi mát mắt như trong tiết Thanh minh? Vẫn là thảm cỏ ấy, vẫn là mặt đất ấy nhưng sao chỉ thấy cái màu “rầu rầu” “xanh xanh” nhạt nhòa, tẻ ngắt. Lẽ nào cái khổ não trong lòng người con gái đáng thương ấy lênh láng đến mức có thể thấm dần vào thiên nhiên, khiến cho cảnh sắc dù thơ mộng đến đâu cũng đều bất giác phủ lên mình một màu tàn úa?

Giữa bốn bề phong cảnh rộng lớn nhưng trơ trọi ấy, Kiều nhìn ra biển và chính lúc này, nàng cảm nhận rõ ràng cái nỗi sợ hãi đang dâng lên trong lòng, cao ngất hơn bao giờ hết. Nàng chợt nghe, chợt thấy:

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

Âm điệu thơ bỗng trở nên dữ dội hẳn lên trước cái gầm gào ầm ĩ của tiếng sóng, khi các từ gợi thanh “ầm ầm”, “kêu” xuất hiện. Cơn gió cuốn trên mặt duềnh, sóng cuộn lên, ào tới, xô đẩy, bủa vây quanh ghê ngồi Kiều, choáng ngợp cả tâm tư nàng. Đó là sự thật hay chỉ là hư vô, là thực tại hay chỉ là ảo ảnh? Hay đó chính là nỗi hoang mang, sợ hãi của nàng Kiều khi bị bao vây bởi muôn vàn cạm bẫy, khi bị nhấn chìm bởi dòng đời, khi cảm thấy cô đơn và hoàn toàn bất lực? Thiên nhiên, cảnh vật được miêu tả rõ dẫn nhưng ta thấy sao vẫn còn xa xôi quá. Tiếng sóng dội ra từ tâm hồn Kiều, từ tiếng lòng gào thét nơi tận đáy lòng của cô gái đang chơi vơi như đứng bên bờ vực thẳm, lạc lõng như cánh chim tách bầy. Cái âm thanh đầy u uất ấy cũng đồng thời dự báo cho một tương lai khủng khiếp sắp sửa giáng xuống, là lời hé mở cho những tai ương rồi đây sẽ lại vùi dập cuộc đời nàng thêm lần nữa.

Nếu như ở những câu thơ đầu, nàng Kiều nhìn cảnh sắc mà bật nên nỗi tình thì ở tám câu thơ này, cái buồn thương vô hạn của nàng đã nhuốm dần, thấm dần lên cảnh vật. Đoạn thơ vừa như bức họa cảnh vật vừa như tiếng lòng nức nở khi lần đầu lạc bước giữa đường đời đầy ngang trái, vừa là điệp khúc của đoạn trích vừa là điệp khúc tâm trạng của nàng Vương Thúy Kiều. Với thể thơ lục bát uyển chuyển, mềm mại, kết hợp cùng phép điệp ngữ liên hoàn “Buồn trông”_ càng buồn lại càng trông, càng trông lại càng buồn, và những từ láy gợi cảm xúc, gợi hình ảnh, âm thanh phong phú: “thấp thoáng, xa xa, man mác, rầu rầu, xanh xanh, ầm ầm” đã diễn tả nỗi buồn với nhiều mức độ khác nhau, mang những sắc màu u ám khác nhau, trào lên như những đợt sóng dữ xô bờ. Điệp ngữ “Buồn trông” xuất hiện ở vị trí đầu câu sáu của mỗi cặp lục bát cũng chính là cảm xúc chủ đạo của cả đoạn thơ, của tâm trạng tê tái thảng thốt, hãi hùng, sợ hãi, lo sợ, của cái niềm thương lớn lao bao trùm: thương người yêu ngóng chờ, thương cha mẹ già yếu, và thương cho thân phận bạc thếch như vôi, cho số mệnh lắm điều hẩm hiu của chính Kiều. Trong tình có cảnh, trong cảnh hữu tình, ngoại cảnh, tâm cảnh như hòa làm một với nhau tạo nên một bức tranh nghệ thuật tả cảnh ngụ tình và ước lệ vô cùng đẹp đẽ, cảm động.

Có thể nói rằng, lần đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc Việt Nam ta, bức tranh tâm tình thê lương của nhân vật lại được vẽ nên một cách trọn vẹn, gợi cảm và xúc động như vậy.  Bằng ngòi bút thiên tài của mình, Nguyễn Du đã làm nổi bật lên nỗi buồn thương da diết đan xen cùng hàng bao niềm nhớ của nàng Kiều bằng một tấm lòng cảm thương thấu hiểu và một nhiệt huyết tràn đầy, sôi nổi, say sưa. Đó chính là biểu hiện của cảm hứng nhân văn nơi con người có tấm lòng nhân đạo to lớn, mênh mông như đại dương biển cả, bao la như vòm trời xanh thẳm_nhà đại thi hào của dân tộc Tố Như. Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” thể hiện sự tài tình không ai sánh bằng trong nghệ thuật tả cảnh ngụ tình của nhà thơ Tố Như, xuất phát từ vốn hiểu biết sâu rộng có được từ cuộc đời từng trải, đi nhiều, tiếp xúc nhiều, hiểu nhiều, và cũng gặp nhiều khó khăn của ông. Tất cả, tất cả đã làm cho đoạn thơ “Kiều ở lầu Ngưng Bích” trở nên đặc sắc, tuyệt diệu. Các biện pháp nghệ thuật được lồng ghép khéo léo, kết hợp đan xen với nhau trong từng câu thơ. Từ ngữ được trau chuốt kĩ càng đến mức đạt trình độ cao nhất của sự điêu luyện. Nhờ đó mà đoạn trích như tỏa sáng hơn, và đọng lại nhiều hơn trong tâm trí, tư tưởng người đọc.

Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là một trong những đoạn miêu tả nội tâm nhân vật đặc sắc nhất, thành công nhất trong “Truyện Kiều”, đặc biệt là bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình. Nó đã góp phần đưa “Truyện Kiều” trở thành một trong những tác phẩm bất hủ trong nền văn học nước nhà, và nếu rộng ra hơn nữa, là của toàn nhân loại. Tác phẩm sẽ mãi như viên minh châu tỏa sáng lấp lánh trong lòng bao thế hệ đọc giả yêu thơ, như nhận định của Dương Quảng Hàm: “Trên từ các bậc văn nhân thi sĩ, dưới đến các kẻ thường dân phụ nhụ, ai cũng thích đọc, thích ngâm và thuộc được ít nhiều...”





[Văn tự làm] Vẻ đẹp nàng Thúy Kiều - Lớp 9

Bây giờ đã hoàn thành xong thi cử, khổ chủ xin được mạn phép post một số bài văn của mình lên. Bài này được khổ chủ viết trong thời gian ôn tập thi lớp 10, thời điểm gấp gáp nên tất nhiên sẽ không tránh khỏi sai sót cũng như những lỗi chính tả không đáng có. Mong mọi người đọc và góp ý chân thành.
Các bài văn do người viết tự làm sẽ được đặt trong dấu [Văn tự làm] để phân biệt với nguồn văn kiếm trên mạng [Văn tham khảo], mọi người chú ý nhé!  
Note: Copy bài sang nơi khác làm ơn xin ghi rõ nguồn và tác giả là Yunari!!!!!!! Xin hãy tự trọng và tôn trọng tác giả một chút!!!

Vài lời muốn nói, bây giờ xin mời mọi người tham khảo. Comment cho tớ nhé ^^




Phân tích đoạn trích “Chị em Thúy Kiều”


“Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời nghìn thu
Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày”

Nguyễn Du_đại thi hào của dân tộc Việt Nam, đã để lại cho đời rất nhiều những tác phẩm chứa đầy tâm huyết. Trong số đó, “Truyện Kiều” hay “Đoạn trường tân thanh” là tác phẩm tuyệt vời nhất, có khả năng đi vào tâm tưởng hàng bao thế hệ già trẻ, lay động trái tim những con người yêu thơ. Qua “Truyện Kiều”, Nguyễn Du đã gởi gắm vào đó bao nhiêu là tâm tư, tình cảm, dẫn người đọc cùng đi trên hành trình tư tưởng của mình, đưa ta qua những cung bậc cảm xúc khác nhau, từ cái ngỡ ngàng này tới cái ngỡ ngàng khác. Trong đó, đầu tiên là cái ngỡ ngàng của ta trước bức chân dung Thúy Kiều trong đoạn trích “Chị em Thúy Kiều”.

Vẻ đẹp Thúy Kiều được miêu tả thông qua đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” nằm ở phần đầu tác phẩm “Truyện Kiều”, tập trung miêu tả ngoại hình và bức chân dung của nàng. Tuy vậy, tác giả đã không chỉ dừng lại ở giới thiệu và miêu tả mà, đồng thời còn lồng vào đó dự cảm của ông về số mệnh truân chuyên lắm gian khổ mà nàng phải chịu đựng, phải trải qua. Trật tự miêu tả của Nguyễn Du đi theo hướng cổ điển: mở đầu là giới thiệu chung về vẻ đẹp bề ngoài và bên trong, rồi tập trung đặc tả sắc đẹp mĩ miều có một không hai của Kiều, ca ngợi sự toàn vẹn về tài năng rồi ở cuối đoạn trích, chốt lại một lần nữa sự đoan trang đứng đắn của người con gái trước những ong bướm vờn quanh. Với ngòi bút tài hoa và tâm hồn mang nặng tính nhân văn, đại thi hào Nguyễn Du đã làm hình ảnh nàng Kiều hiện lên một cách tuyệt vời, thập toàn, thập mĩ.

Đoạn thơ bắt đầu bằng lời mở chung giới thiệu về cả hai chị em:

Đầu lòng hai ả tố nga,
Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân.
Mai cốt cách tuyết tinh thần,
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.

Tác giả giới thiệu sơ về Kiều và em, cũng như vai về và nét đẹp đáng trân trọng ở mỗi người qua những câu thơ đầu tiên. Từ ngữ “ả tố nga” mà tác giả sử dụng để nói về hai chị em cũng đồng thời mang ý nghĩa ví vẻ đẹp của hai nàng như chị Hằng Nga cai quản mặt trăng trong truyền thuyết, như cô gái ở chốn thần nơi tiên. Rồi nhà thơ giới thiệu về vai vế và nét đẹp trong tâm hồn của cả hai. Những hình ảnh ẩn dụ ước lệ tuyệt đẹp “Mai cốt cách tuyết tinh thần” càng làm ta cảm nhận rõ hơn: nều như “mai cốt cách” là nói lên dáng vẻ, cốt cách thanh tao, cao quý như mai, thì “tuyết tinh thần” lại gợi về tâm hồn trong sáng, ngây thơ, thanh sạch tựa sắc trắng tinh khôi của làn tuyết mỗi độ đông sang. Kiều và em, mỗi đều nàng mang một vẻ đẹp rạng ngời riêng, một nét tính cách đẹp đẽ riêng, nhưng nhìn tổng thể thì ai cũng đều hoàn hảo tới mức “mười phân vẹn mười”. Vẻ đẹp toàn mĩ theo quan niệm phong kiến thời xưa ấy thể hiện sự lý tưởng hóa cao độ của tác giả trong nghệ thuật miêu tả, bởi có mấy ai trên thế gian này may mắn có được vẻ đẹp toàn vẹn như vậy đâu?

Sau phần giới thiệu chung về hai chị em, Nguyễn Du đã vẽ nên bức chân dung riêng của từng nhân vật. Bên cạnh một cô em Thúy Vân đoan trang đức hạnh mang vẻ đẹp hiền hòa, bức chân dung trọn mặt tài sắc, vẹn mặt tâm hồn của Kiều trở nên nổi bật hơn lên hẳn. Bằng những đường nét tinh xảo mang tên “nghệ thuật ước lệ”, chân dung nàng Thúy Kiều dần hiện lên, có cảm giác như nàng hiện diện không chỉ trên trang giấy mà hình ảnh nàng còn dẫn rõ ràng lên trong cả tâm tưởng người đọc:

Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn:

So với Vân, cả về mặt tài lẫn mặt sắc Kiều đều trội hơn. Từ ngữ “càng” càng làm ta thấy rõ nét đặc biệt về nhan sắc và tai hoa nàng Kiều. Nghệ thuật đòn bẩy đã được Nguyễn Du sử dụng một cách tài tình, khéo léo: dùng Vân làm nên, làm chuẩn mực để bật mạnh lên, làm trội hơn vẻ đẹp của Kiều. Thúy Kiều có một vẻ đẹp thật vô cùng tuyệt diệu: sắc sảo về trí tuệ, mặn mà về nhan sắc, là người đẹp hoàn hảo trên cả hai phương diện: sắc và tài. Ta thấy nàng Kiều bật hơn hơn hẳn cô em mình. Ở Kiều không có nét đoan trang phúc hậu, dịu dàng đằm thắm như Vân mà là vẻ đẹp “mặn mà, sắc sảo”, tinh tế và có sức lôi cuốn người khác mạnh mẽ:

Làn thu thủy nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một tài đành họa hai.

Đối với Thúy Kiều, nhà thơ đã không chỉ rõ từng bộ phận cụ thể như khi tả Thúy Vân, nhưng những câu thơ ông viết lại làm mỗi người khi đọc đều có thể hình dung ra cho riêng mình một nàng Kiều tuyệt sắc tài hoa, thấy rõ ràng được bức chân dung người con gái đẹp “mười phân vẹn mười”. Với những nét bút ước lệ tuyệt vời, một ấn tượng đẹp tổng thể được gợi lên: “làn thu thủy” chỉ đôi mắt trong veo, thoáng gợn buồn tựa hồ làn nước vào độ tiết thu. Đôi mắt long lanh như chất chứa bao nỗi niềm tâm sự của nàng đã trở thành vẻ đẹp bất hủ trong thơ ca, khi nó đã khiến trái tim bao người xao xuyến xiêu lòng. Cụm từ “nét xuân sơn” vẽ nên trước mắt ta cặp chân mày thanh tú, nhẹ nhàng, duyên dáng như dáng núi vào xuân, thanh đậm một sắc màu đen nhạt. Với khuôn mặt xinh đẹp như hoa như ngọc ấy, Kiều có thể làm “nghiêng nước nghiêng thành” chỉ với một ánh mắt, hai cái nhìn. Nghệ thuật điển tích và nói quá mà Nguyễn du sử dung không những không phóng đại sự thật về sắc đẹp nàng Kiều mà như một lời khẳng định: Kiều là người con gái quốc sắc thiên hương, người có nhan sắc “kim sa cá lặn, nguyệt thẹn hoa nhường”. Thật vậy, câu thơ “Sắc đành đòi một tài đành họa hai” cũng đã nói lên điều đó. Nếu về sắc, thì không ai có thể sánh được, còn tài thì họa hoằn lắm mới có người hơn nàng. Thế mà nàng Kiều lại hợp cả sắc và tài lại với nhau, như thế thì có thể chắc chắn rằng người được toàn vẹn như nàng trên thế gian này là không thể có. Nhưng vẻ đẹp ấy của Kiều lại không được thiên nhiên dễ dàng chấp nhận, nhường nhịn như Vân mà do quá tuyệt sắc nên đến cả thiên nhiên tạo hóa, đến là “hoa” cũng phải ghen tuông, là “liễu” cũng phải giận hờn. Biện pháp nhân hóa này cũng chính là lời hé mở của đại thi hào Nguyễn Du cho những phong ba bão tố rồi đây sẽ xuất hiện để vùi dập nàng, xô đẩy số phận nàng. Bởi như có một quy luật khắc nghiệt rằng những người đẹp sắc đa tài hay bị đất trời đố kị, ghen ghét nên không được hưởng cuốc sống yên bình, hạnh phúc:

Trời xanh quen thói mà hồng đánh ghen.

Sự trọn vẹn về nhan sắc của Thúy Kiều còn được bồi đắp thêm bằng cái phong phú trên bình diện tài năng. Tác giả đã viết những câu thơ tả về tài hoa và trí tuệ trời phú của nàng:

Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm.
Cung thương làu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương.
Khúc nhà tay lựa nên chương,
Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân.

Nếu như ở cô em Vân, nhà thơ chỉ miêu tả sắc đẹp thì khi nói về Thúy Kiều, ông vừa đặc tả nhan sắc vừa ngợi ca tài năng. Với trí thông minh trời phú khi có được từ “vỗn sẵn tính trời” của mình, cộng thêm được hưởng sự giáo dục chu đáo khi xuất thân từ một gia đình danh giá, nàng Kiều có đầy đủ các tài cầm kì thi họa_chuẩn mực tài năng thời phong kiến khi vừa làm được thơ, vừa đánh đàn hay, lại vừa có tài vẽ. Các từ ngữ “vốn sẵn”, “pha nghề”, “đủ mùi”, “làu”, “ăn đứt” cũng vừa thể hiện tài bậc xuất sắc hơn người của Kiều, vừa thể hiện thái độ trân trọng của Nguyễn Du với tài hoa của nàng. Ở lĩnh vực nào Kiều cũng đều xuất chúng, nhưng tài đàn mới gọi là đạt đến mức độ cao nhất của tài nghệ, vượt xa hơn cả những người khác, trở thành “nghề riêng” của nàng. Ngón nghề điêu luyện cùng cung đàn Bạc mệnh sầu thương khổ não mà Kiều tự tay sáng tác đã làm bao người một khi đã thưởng thức thì không thể nào tránh khỏi cái cảm giác đau đáu trong tim, thổn thức trong tâm hồn. Khúc nhạc tựa tiếng lòng thổn thức của một trái tim đa sầu đa cảm. Phải chăng cung đàn Bạc mệnh ai oán thê lương, buồn bã đến nao lòng kia cũng chính là khúc giai âm về số phận đau đớn của cuộc đời, của kiếp người bấp bênh chìm nổi giữa bao sóng gió mà Kiều phải chịu đựng trong suốt mười lăm năm lưu lạc? Dường như nhà thơ cũng đã bày tỏ lòng thương cảm cùng dự báo về kiếp hồng nhan bạc mệnh của Kiều qua cung đàn Bạc mệnh: không có được cuộc sống êm đềm bình lặng như Vân, cuộc đời Kiều sẽ đầy ắp những éo le đau khổ, những buồn tủi thê lương tựa như cái bản nhạc thê lương sầu thảm ấy.

Cuối cùng, bốn câu thơ cuối đoạn trích đã miêu tả cuộc sống khuôn phép, mẫu mực để khẳng định lại lần nữa vẻ đẹp bức chân dung của cả hai chị em, vẻ đẹp cả về đức hạnh lẫn nhan sắc, về cốt cách lẫn tài năng:

Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê.
Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.

Tuy tuổi đã đến độ xuân thì, có thể búi tóc cài trâm, thành gia lập thất nhưng Thúy Vân và Thúy Kiều vẫn sống đoan chính trong khuôn khổ gia đình, giấu mình trong những “trướng rủ màn che”, thờ ơ với những kẻ trăng hoa ong bướm lả lơi xung quanh, nhưng đồng thời hai cô gái cũng rất rạo rực trước cái xuân sắc của tuổi trẻ. Những nét thơ ngây, trong sáng, hồn nhiên  ấy chính là cội nguồn bồi đắp, nuôi dưỡng cho sự hình thành nhân cách và ý thức làm người cao cả của hai chị em sau này, đặc biệt là nàng Vương Thúy Kiều.

Có thể nói rằng, lần đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc Việt Nam ta, hình ảnh người phụ nữ lại hiện diện một cách toàn mĩ cả về vẻ ngoài lẫn tâm hồn như vậy. Bằng ngòi bút thiên tài của mình, Nguyễn du đã làm nổi bật lên bức chân dung hai nàng Vân – Kiều, đặc biệt là nàng Kiều, bằng một tấm lòng trân trọng yêu mến và một nhiệt huyết tràn đầy, sôi nổi và say sưa. Đó chính là biểu hiện của cảm hứng nhân văn nơi con người có tấm lòng nhân đạo to lớn, mênh mông như đại dương biển cả, bao la như vòm trời xanh thẳm_nhà đại thi hào Nguyễn Du. Bởi lẽ, trong xã hôi phong kiền đầy những khuôn khổ phép tắc bất công, chênh lệch, hà khắc, người phụ nữ luôn bị chèn ép, chà đạp, xô đẩy, có khi còn bị vất vào chốn tận cùng của xã hội. Đoạn trích cũng thể hiện sự tài tình không ai sánh bằng trong nghệ thuật tả người của nhà thơ Tố Như, cộng thêm vốn hiểu biết sâu rộng xuất phát từ cuộc đời từng trải, đi nhiều, tiếp xúc nhiều, hiểu nhiều, và cũng gặp nhiều khó khăn của ông, đã làm cho đoạn thơ “Chị em Thúy Kiều” trở nên đặc sắc, tuyệt diệu. Các biện pháp nghệ thuật được lồng ghép khéo léo, kếp hợp đan xen với nhau trong từng câu thơ. Từ ngữ được trau chuốt kĩ càng đến mức đạt trình độ cao nhất của sự điêu luyện. Tất cả, tất cả đã làm đoạn trích như tỏa sáng hơn, ánh hẳn lên trong tâm trí, tư tưởng người đọc.

Đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” là một trong những đoạn miêu tả chân dung nhân vật hay nhất trong “Truyện Kiều”, góp phần đưa “Truyện Kiều” trở thành một trong những tác phẩm bất hủ trong nền văn học nước nhà, và nếu rộng ra hơn nữa, là của toàn nhân loại. Tác phẩm sẽ mãi như viên minh châu tỏa sáng lấp lánh trong lòng bao thế hệ đọc giả yêu thơ, như nhận định của Dương Quảng Hàm: “Trên từ các bậc văn nhân thi sĩ, dưới đến các kẻ thường dân phụ nhụ, ai cũng thích đọc, thích ngâm và thuộc được ít nhiều...”

Yunari

Chủ Nhật, 26 tháng 6, 2011

[Văn tham khảo] Tổng kết các câu hỏi trong chương trình Văn lớp 9

Cái này là bảng tóm tắt câu hỏi người viết lượm lặt được trên blog của thầy Nguyễn Long Giang (hiện giờ không lưu link blog của thầy nên sẽ không post), xin giới thiệu cho mọi người như một nguồn văn tham khảo.

Mọi người đọc và comment cho tớ nhé ^^


I. CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG

Câu 1: Trình bày những hiểu biết của em về tác giả và tác phẩm.
Câu 2: Tóm tắt truyện “Chuyện người con gái Nam Xương”
Câu 3: Nêu những chi tiết truyền kỳ và ý nghĩa của chúng trong truyện.
Câu 4: Bằng cách kết thúc tài tình: “Chuyện người con gái Nam Xương” đã tố cáo hiện thức xã hội phong kiến bất công và đồng thời thể hiện tấm lòng nhân đạo của nhà văn.
Câu 5: Nêu suy nghĩ của em về nhân vật Vũ Nương trong “Chuyện người con gái Nam Xương”
Câu 6: Những đặc sắc về nghệ thuật của “Chuyện người con gái Nam Xương”
Câu 7: Phân tích giá trị nhân đạo trong “Chuyện người con gái Nam Xương”

II. CHUYỆN CŨ TRONG PHỦ CHÚA TRỊNH

Câu 8: Trình bày những hiểu biết của em về tác giả và tác phẩm
Câu 9: Nêu suy nghĩ của em về cuộc sống của chúa Trịnh.
Câu 10: “Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh” của Phạm Đình Hổ không chỉ tố cáo thói quen ăn chơi xa xỉ của chúa Trịnh mà qua đó tác giả cũng vạch trần được thói nhũng nhiễu của quan lại thời bấy giờ.

III. HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ (HỒI THỨ 14)

Câu 11: Trình bày những hiểu biết của em về tác giả và tác phẩm.
Câu 12: Tóm tắt hồi thứ 14 của chuyện “Hoàng Lê nhất thống chí”
Câu 13: Nêu nội dung chính của hồi thứ 14. Tại sao các tác giả là người vốn trung thành với nhà Lê mà lại viết về Quang Trung hay và thực đến vậy?
Câu 14: Cảm nhận về hình tượng Quang Trung trong hồi thứ 14.
Câu 15: Đọc hồi thứ 14 của “Hoàng Lê nhất thống chí” người đọc không thể quên lời nói của Quang Trung bên hội đèo Tam Điệp.

IV: TRUYỆN KIỀU

Câu 16: Trình bày những hiểu biết của em về tác giả và tác phẩm
Câu 17: Tóm tắt truyện Kiều.
Câu 18: Giá trị nhân đạo của truyện Kiều của Nguyễn Du.
Câu 19: Cảm nhận đoạn trích Cảnh ngày xuân.
Câu 20: Bức chân dung chị em Thúy Kiều.
Câu 21: Bản chất con buôn của Mã Giám Sinh.
Câu 22: Tâm trạng Thúy Kiều trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích.
Câu 23: Bức chân dung Thúy Kiều

V. LỤC VÂN TIÊN

Câu 24: Trình bày những hiểu biết của em về tác giả và tác phẩm
Câu 25: Tóm tắt tác phẩm Lục Vân Tiên.
Câu 26: Cảm nhận của em về cuộc sống của Ngư ông.
Câu 27: Cảm nhận về nhân vật Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga.

VI. VĂN HỌC TRUNG ĐẠI

Câu 28: Phân tích vẻ đẹp và số phận của người phụ nữ qua tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” và các đoạn trích trong Truyện Kiều.
Câu 29: Bộ mặt xấu xa của giai cấp thống trị, xã hội phong kiến được thể hiện như thế nào qua các tác phẩm “Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh”, “Hoàng Lê nhất thống chí” và “Truyện Kiều”
Câu 30: Phân tích hình tượng các nhân vật.
Nguyễn Huệ
Lục Vân Tiên
Câu 31: Qua các đoạn trích của Truyện Kiều hãy phân tích giá trị nhân đạo của Truyện Kiều.
Câu 32: Phân tích những thành công về nghệ thuật của Truyện Kiều.

VĂN HỌC HIỆN ĐẠI: HỌC KÌ I

VII. ĐỒNG CHÍ

Câu 33: Chép nguyên văn bài thơ và trình bày những hiểu biết của em về tác giả và tác phẩm, suy nghĩ về nhan đề của tác phẩm.
Câu 34: Cảm nhận về hình ảnh anh bộ đội trong kháng chiến chống Pháp.
Câu 35: Cảm thụ khổ thơ cuối của bài thơ Đồng Chí.

VIII. BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH

Câu 36: Chép nguyên văn bài thơ và trình bày những hiểu biết của em về tác giả và tác phẩm, suy nghĩ về nhan đề của tác phẩm.
Câu 37: Cảm nhận về hình ảnh những chiến sỹ lái xe Trường Sơn.
Câu 38: Cảm nhận về câu thơ cuối.
Câu 39: So sánh anh bộ đội trong kháng chiến chống Pháp và anh bộ đội trong kháng chiến chống Mỹ

IX. ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ

Câu 40: Chép nguyên văn bài thơ và trình bày những hiểu biết của em về tác giả và tác phẩm.
Câu 41: Bài thơ không chỉ khắc họa hình ảnh thiên nhiên mỹ lệ mà còn vẽ lên hình ảnh những con người lao động.
Câu 42: Phân tích sự lặp lại hai lần của câu thơ trong khổ đầu và khổ cuối: “Câu hát căng buồm cùng gió khơi”.

X. BẾP LỬA

Câu 43: Chép nguyên văn bài thơ và trình bày những hiểu biết của em về tác giả và tác phẩm.
Câu 44: Phân tích vẻ đẹp của hình ảnh bếp lửa trong bài thơ.
Câu 45:Phân tích hình ảnh người bà trong hồi tưởng và cảm nhận của người cháu.
Câu 46: Những đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ.
Câu 47: Cảm nhận về đoạn thơ có từ “nhóm”
Câu 48: Suy nghĩ về nhan đề của tác phẩm.

XII. ÁNH TRĂNG

Câu 52: Chép nguyên văn bài thơ và trình bày những hiểu biết của em về tác giar và tác phẩm, suy nghĩ về nhan đề của tác phẩm.
Câu 53: Cảm nhận của em về bài thơ.
Câu 54: Ý nghĩa biểu tượng của vầng trăng.
Câu 55: Phân tích hình ảnh vầng trăng và thái độ của nhà thơ khi bắt gặp hình ảnh vầng trăng.
Câu 56: Tính triết lý và chiều sâu suy ngẫm của bài thơ thể hiện rõ nhất ở đoạn thơ nào? Vì sào em khẳng định như vậy?

XIII. LÀNG

Câu 57: Trình bày những hiểu biết của em về tác giả và tác phẩm, suy nghĩ về nhan đề của tác phẩm.
Câu 58: Tóm tắt truyện ngắn.
Câu 59: Cảm nhận về nhân vật ông Hai.

XIV: CHIẾC LƯỢC NGÀ

Câu 60: Trình bày những hiểu biết của em về tác giả và tác phẩm, suy nghĩ về nhan đề của tác phẩm.
Câu 61: Tóm tắt truyện.
Câu 62: Cảm nhận về nhân vật bé Thu.
Câu 63: Tình yêu con của nhân vật ông Sáu.
Câu 64: Cảm nhận về tình cha con.

XI: LẶNG LẼ SAPA

Câu 65: Trình bày những hiểu biết của em về tác giả và tác phẩm, suy nghĩ về nhan đề của tác phẩm.
Câu 66: Tóm tắt truyện.
Câu 67: Vẻ đẹp của thiên nhiên SaPa.
Câu 68: Vẻ đẹp của những con người ở SaPa.
Câu 69: Suy nghĩ về nhân vật anh thanh niên.
Câu 70: Cảm nhận về những con người đến với SaPa.
Câu 71: Nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm.

VĂN HỌC HIỆN ĐẠI: HỌC KỲ II

XVII: MÙA XUÂN NHO NHỎ

Câu 80: Chép nguyên văn bài thơ và trình bày những hiểu biết của em về tác giả và tác phẩm, suy nghĩ về nhan đề của tác phẩm.
Câu 81: Cảm xúc trước mùa xuân thiên nhiên.
Câu 82: Cảm xúc trước mùa xuân đất nước, con người.
Câu 83: Ước nguyện trước mùa xuân của nhà thơ.

XVIII. SANG THU

Câu 84: Chép nguyên văn bài thơ và trình bày những hiểu biết của em về tác giả và tác phẩm, suy nghĩ về nhan đề của tác phẩm.
Câu 85: Vẻ đẹp của thiên nhiên lúc giao mùa.
Câu 86: Giải thích ý nghĩa triết lý ở 2 câu thơ cuối.

XIX: VIẾNG LĂNG BÁC

Câu 87: Chép nguyên văn bài thơ và trình bày những hiểu biết của em về tác giả và tác phẩm, suy nghĩ về nhan đề của tác phẩm.
Câu 88: Hãy phân tích bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phưỡng để hiểu được tấm lòng thành kính thiêng liêng của tác giả, cũng như của nhân dân ta đối với với Bác.
Câu 89: ước nguyện của nhà thơ trước khi rời lăng Bác.
Câu 90: Phân tích 2 câu thơ:
“Bác nằm trong giấc ngủ bình yên,
Giữa một vầng trăng sang dịu hiền”

[Văn tham khảo] Các truyện trong chương trình lớp 9

Cái này thực tình cũng không phải là do người viết chép trên mạng về, là do một người bạn của người viết gửi qua Y!M làm tài liệu tham khảo, và đó cũng là lý do người viết hoàn toàn không biết nguồn cũng như tác giả của bài viết == (rất ư là cảm thấy tội lỗi với cái này) Nhưng theo trí nhớ kém cỏi của người viết thì cái này được lấy trên website của tác giả Lê Hồng Hải == Người viết thành thật nhận lấy thiếu sót này, mong mọi người thông cảm. 

Nói nhảm đủ rồi, mọi người đọc và tham khảo. Chúc mọi người có một nguồn tài liệu thật tốt ^^! 

Mọi người comment nhiệt tình nhé ^^

Những ngôi sao xa xôi - Lê Minh Khuê
1.Về Lê Minh Khuê:
Trước năm 1975, tác phẩm chủ yếu viết về cuộc sống chiến đấu của thanh niên xung phong, bộ đội trên tuyến đường Trường Sơn. Sau năm 1975, các tác phẩm của bà bám sát vào những biến chuyển, đổi mới xã hội trên tinh thần đổi mới. Các tác phẩm chính: Cao điểm mùa hạ (1978), Đoàn kết (1980), Bi kịch nhỏ (1993), Một mình qua đường (2006). Truyện “Những ngôi sao xa xôi ” là một trong những tác phẩm đầu tay của Lê Minh Khuê, viết năm 1971, trong lúc cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước đang diễn ra rất ác liệt.
2. Tóm tắt nội dung:
Truyện kể về một tổ trinh sát nữ phá bom trên cao điểm. Họ gồm có ba người : chị Thao, Nho và Phương Định. Công việc của họ là theo dõi việc ném bom của địch, đo khối lượng đất lấp vào hố bom và phá những quả bom chưa nổ. Nơi họ ở rất vắng vẻ và công việc rất vất vả, cái chết rình rập nhưng họ vẫn yêu đời lạc quan. Đặc biệt Phương Định có một tâm hồn lãng mạn, mộng mơ, thích hát, làm điệu...  Một lần, theo sự phân công của chị Thao, Định ở hang trực máy điện thoại, còn chị Thao và Nho đi trinh sát. Định lo lắng cho các bạn nhưng rồi họ cũng về. Sau đó, ba chị em cùng đi phá những quả bom chưa nổ. Định phá một quả bom trên đồi, Nho phá hai quả dưới lòng đường còn chị Thao phá một quả dưới chân hầm ba-ri-e cũ. Nho bị thương trong lần phá bom đó do hầm cô nấp bị sập. Cô được Định và Thao đưa về chăm sóc cẩn thận. Không ai khóc trong hoàn cảnh ấy, họ cố giữ vẻ cứng cỏi để làm yên lòng đồng đội. Một cơn mưa đá bất ngờ ập xuống, Định chạy ra nhặt những viên đá và đem vào cho Nho mấy viên. Họ say sưa với những niềm vui thời trẻ con, và trận mưa ấy cũng đem về trong tâm trí Định bao hình ảnh ở quê nhà.
Tình huống của truyện : tâm trạng Phương Định trong một lần phá bom mìn.
 Tác dụng của tình huống ấy: làm nổi bật tính cách của nhân vật Phương Định. Đó là một cô thanh niên xung phong dũng cảm, gan dạ, yêu mến công việc và có tinh thần trách nhiệm cao. Tính cách của nhân vật Phương Định cũng là tính cách của những cô gái thanh niên xung phong thời chống Mĩ cứu nước.
3.   Truyện được trần thuật từ nhân vật nào? Ngôi thứ mấy? Chọn cách trần thuật như thế có tác dụng gì trong việc thể hiện nội dung truyện?
            Truyện được trần thuật ở ngôi thứ nhất, từ nhân vật Phương Định - nhân vật chính của truyện.
            Tác dụng của cách chọn vai kể như vậy: thuận lợi trong việc biểu hiện thế giới tâm hồn, cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật đồng thời phù hợp với nội dung tác phẩm và tăng tính chân thực cho câu chuyện.
4. Giải thích tiêu đề:
            Mượn hình ảnh thiên nhiên là những ngôi sao trên bầu trời cao rộng, tác giả nói về những cô gái thanh niên xung phong, công việc của họ rất thầm lặng trên một cao điểm xa xôi, ít người nhìn thấy được. Nhưng từ ánh mắt đến việc làm của họ đều toả sáng cho thế hệ mai sau học tập và noi theo.
5. Phân tích tâm lý nhân vật Phương Định.
            Tâm lý nhân vật Phương Định được miêu tả sinh động và rất tự nhiên. Cô tự ý thức mình là một cô gái đẹp: cô tự ngắm mình trong gương và tự hào về cái ngoại hình khá của mình. Đó là nét tâm lý rất tự nhiên, rất đáng yêu của những cô gái trẻ. Cô không vồn vã đối đáp với mấy anh bộ đội mà thường đứng ra xa khoanh tay trước ngực và nhìn đi nơi khác, môi mím chặt. Nhưng thực ra trong lòng rất nể phục các anh bộ đội. Đó là kiểu làm bộ, làm điệu rất nữ tính. Cách để cho nhân vật “tự thú ” làm cho tính cách nhân vật hiện lên chân thật. Đặc biệt, tác giả thành công khi miêu tả tâm trạng cô trong một lần phá bom. Dù đây là công việc hàng ngày của các cô, nhưng Phương Định rất hồi hộp và lo sợ. Đó là tâm lý thường tình của những người đối diện với hiểm nguy, có thể là cái chết. Nhưng khi nghĩ đến có ánh mắt những chiến sĩ dõi theo mình, cô không lo sợ mà đàng hoàng bước tới chỗ quả bom Như vậy, nhân vật vừa mang nét đẹp chung của những người lính trinh sát dũng cảm gan dạ, đồng thời là một cô gái trẻ trung, lãng mạn, giàu mơ mộng và có tâm hồn trong sáng.

Làng - Kim Lân
1. Về Kim Lân:
            Kim Lân là nhà văn am hiểu sâu sắc cuộc sống nông thôn và người nông dân Việt Nam. Các tác phẩm của ông hầu như chỉ viết về sinh hoạt làng quê và cảnh ngộ của người nông dân. Các tác phẩm chính của ông: Nên vợ nên chồng, Con chó xấu xí,...  Tác phẩm “Làng”: Truỵên ngắn này được viết vào thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp và đăng lần đầu tiên trên tạp chí văn nghệ năm 1948.
2. Tóm tắt nội dung truyện.
            Ông Hai Thu là người làng Chợ Dầu. Vì hoàn cảnh, ông phải theo gia đình đi tản cư. Trong thời gian sống xa làng, ông rất nhớ làng, ông thường kể chuyện về cái làng Chợ Dầu của mình cho mọi người nghe để bớt đi nỗi nhớ làng. Thế rồi một hôm, ông nghe mọi người nói làng Chợ Dầu của ông theo Tây, ông bàng hoàng, sững sờ và cảm thấy tủi hổ trước cái tin dữ ấy. Lúc nào ông cũng cảm thấy nỗi ám ảnh nặng nề và sợ hãi vì cái tin làng mình theo giặc. Nhiều lúc muốn trở về làng song ông nghĩ: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù ”. Và rồi một hôm, ông nghe tin chính thức là làng ông không phải theo Tây mà vẫn theo kháng chiến thì ông lại vui vẻ đến lạ thường. Ngồi đâu ông cũng kể với mọi người là nhà ông bị Tây đốt, là không phải làng ông theo Tây một cách vui vẻ, tỉ mỉ, rành rọt như chính ông vừa dự xong trận đánh.
3. Tình huống nào trong truyện đã làm bộc lộ sâu sắc tình yêu làng quê và tinh thần yêu nước của nhân vật ông Hai ?
            Tình huống truyện: ở nơi tản cư, khi vừa ở phòng thông tin ra thì ông Hai đột ngột nghe được tin làng Chợ Dầu theo giặc từ những người mới tản cư ở dưới xuôi lên. Chính tình huống gay cấn ấy, tác giả đã làm bộc lộ sâu sắc tình yêu làng quê và tinh thần yêu nước của người nông dân làng quê là ông Hai.
4. Đoạn đối thoại trên, những lời của nhân vật ông Hai không phải chỉ nhằm trò chuyện với con mà còn biểu hiện tình cảm thiêng liêng và sâu nặng của ông Hai với quê hương, với đất nước, với kháng chiến, với Cụ Hồ. Trò chuyện với đứa con nhỏ thực chất là cách để ông vơi đi phần nào nỗi nhớ, nỗi đau xót về làng mình để từ đó thổ lộ nỗi lòng thuỷ chung của mình với làng quê, với cuộc kháng chiến. Vì thế, đoạn văn trên hình thức là đối thoại nhưng lại mang tính chất độc thoại nội tâm.
5. Diễn biến tâm trạng ông Hai khi nghe tin làng mình theo Tây? Vì sao ông Hai lại có tâm trạng như vậy?
            Khi nghe tin quá đột ngột về cái làng Chợ Dầu quê ông theo Tây, ông Hai sững sờ, “Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng hẳn đi, tưởng như đến không thở được”. Cái tin dữ ấy như sét đánh bên tai. Khi chấn tĩnh lại phần nào, ông còn cố chưa tin cái tin ấy nhưng rồi những người tản cư đã kể rành rọt quá, lại khẳng định rằng họ vừa ở dưới ấy lên làm ông không thể không tin.
            Từ lúc ấy, trong tâm trí ông Hai chỉ còn có cái tin dữ ấy xâm chiếm, nó thành nỗi ám ảnh, day dứt. Nghe tiếng chửi bọn Việt gian, ông cúi gằm mặt xuống mà đi. Về đến nhà, ông nằm vật ra giường rồi tủi thân nhìn đàn con: “nước mắt ông lão cứ giàn ra... Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư ?...”
            Từ sự sững sờ, day dứt, tâm trạng ông Hai đã biến thành sự sợ sệt trong cõi lòng: suốt ngày ông không giám đi đâu, ông chỉ quanh quẩn ở nhà, nghe ngóng tình hình bên ngoài. Rồi chỉ: Một đám đông túm lại, ông cũng để ý, dăm bảy tiếng cười nói xa xa, ông cũng chột dạ. Lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng như người ta đang để ý, người ta đang bàn tán đến “cái chuyện ấy”. Rồi cuộc đấu tranh nội tâm diễn ra trong ông: ông muốn trở về làng để xem thực hư ra sao. Nhưng cứ nghĩ đến chuyện làng theo Việt gian là ông lại không muốn về. Ông nghĩ: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù.” Và cuối cùng, ông chỉ còn biết tâm sự với đứa con nhỏ. Qua lời tâm sự ấy, ông Hai đã bộc lộ tình yêu làng, yêu nước, niềm tin với kháng chiến, với Cụ Hồ. Tóm lại, tác giả đã diễn tả rất cụ thể nỗi ám ảnh nặng nề biến thành sự sợ hãi và xung đột nội tâm trong ông Hai. Qua đó chứng tỏ Kim Lân là nhà văn am hiểu sâu sắc tâm tư của người nông dân thời kì đầu kháng chiến chống Pháp. Ông Hai có tâm trạng như vậy vì ông rất yêu làng, tình yêu làng đã gắn bó gần như máu thịt trong ông. Do đó, khi nghe tin xấu về làng ông đã không chấn tĩnh nổi tâm trạng của mình.
6. Phân tích tình yêu làng quê gắn với tình yêu đất nước của ông Hai.
            Khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc, hai thứ tình cảm ấy (tình yêu làng và tình yêu nước) đã dẫn đến một cuộc xung đột nội tâm ở ông Hai. Ông đã dứt khoát lựa chọn theo cách của ông: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”, tình yêu nước đã rộng lớn hơn, bao trùm lên tình cảm với làng quê. Nhưng dù có xác định như thế, ông vẫn không thể dứt bỏ tình cảm với làng quê vì thế mà càng đau xót, tủi hổ.  Và ông đã bị đẩy vào tình thế bế tắc tuyệt vọng khi mụ chủ nhà muốn đuổi gia đình ông đi. Đi đâu bây giờ, không ai muốn chứa chấp dân của cái làng theo Việt gian và cũng không thể quay về làng. Bởi về làng “tức là chịu quay lại làm nô lệ cho thằng Tây”. Mối mâu thuẫn trong nội tâm và tình thế của nhân vật dường như đã thành sự bế tắc đòi hỏi phải được giải quyết.  Cuối cùng, ông chỉ biết ôm thằng con nhỏ, trút nỗi lòng của mình vào những lời thủ thỉ tâm sự với đứa con còn rất ngây thơ. Qua những lời tâm sự với đứa con nhỏ, thực chất là lời tự nhủ với mình, tự giãi bày nỗi lòng mình. Ta thấy tình yêu của ông với làng Chợ Dầu thật sâu nặng. Tình yêu ấy không chỉ dừng lại với làng mà nó còn là tấm lòng thuỷ chung với kháng chiến, với Cách mạng mà biểu tượng là Cụ Hồ. Tình cảm ấy thật sâu sắc và thiêng liêng!
7. Em có nhận xét gì về nghệ thuật miêu tả tâm lý và ngôn ngữ nhân vật ông Hai của tác giả ?
            Truyện được xây dựng theo một cốt truyện tâm lý: tác giả đã sáng tạo ra tình huống truyện có tính căng thẳng, thử thách ở nội tâm nhân vật để từ đó bộc lộ đời sống bên trong, tình cảm, tư  tưởng của nhân vật. Tác giả miêu tả rất cụ thể, gợi cảm các diễn biến nội tâm qua các ý nghĩ, hành vi, ngôn ngữ... đặc biệt, diễn tả rất đúng và gây ấn tượng mạnh về sự ám ảnh, day dứt trong tâm trạng nhân vật. Điều đó chứng tỏ Kim Lân am hiểu rất sâu sắc về người nông dân và thế giới tinh thần của họ.
·                                Ngôn ngữ nhân vật rất đặc sắc, đặc biệt là ngôn ngữ nhân vật ông Hai.
Ngôn ngữ mang đậm tính khẩu ngữ, nhất là những lời ăn tiếng nói của nhân dân. Lời trần thuật và lời nhân vật có sự thống nhất về sắc thái, về giọng điệu, do truyện được trần thuật chủ yếu qua điểm nhìn của nhân vật ông Hai. Ngôn ngữ nhân vật ông Hai vừa có nét chung của người nông dân lại vừa mang đậm cá tính của nhân vật nên rất sinh động. Cách trần thuật rất linh hoạt, tự nhiên, có nhiều chi tiết sinh hoạt đời sống hàng ngày xen vào với mạch tâm trạng khiến cho truyện sinh đồng hơn.
8. Truyện được kể theo ngôi thứ mấy? Tác dụng của việc sử dụng ngôi kể này?
            Ngôi kể: Truyện được trần thuật theo ngôi kể thứ ba. Tác dụng: Chọn ngôi kể thứ ba, giúp cho nhân vật ông Hai trong truyện được đánh giá một cách khách quan, tự nhiên. Tình yêu làng, yêu nước của ông được đánh giá khách quan chứ không phải chủ quan của người kể.
9. Giải thích tiêu đề tác phẩm.  Đặt tên truyện là “Làng”, dụng ý của tác giả muốn nói tới nhiều làng quê Việt Nam. Và trong những làng quê ấy có những người nông dân có tình yêu làng, yêu nước như nhân vật ông Hai. Như vậy, từ một “làng”, tác giả muốn nói tới nhiều làng. Từ hình ảnh một người nông dân, tác giả muốn nói tới hình ảnh của nhiều người nông dân Việt Nam đều có tinh thần yêu làng yêu nước như ông Hai.

Chiếc lược ngà - Tác giả: Nguyễn Quang Sáng
1. Tóm tắt truyện ngắn “Chiếc lược ngà ”:
Câu chuyện được ghi lại qua lời kể của một chiến sĩ cách mạng lớn tuổi (bác Ba). Thời chống Pháp, ông Sáu thoát li đi kháng chiến lúc bé Thu, con gái ông chưa đầy một tuổi. Hoà bình lập lại, ông về thăm gia đình, con gái ông không nhận ra cha vì vết sẹo trên mặt làm ba em không giống người ba trong bức ảnh chụp mà em biết. Suốt ba ngày ở nhà, bé Thu tìm cách xa lánh, giận dỗi, nhất định không chịu gọi ông là ba. Mãi đến lúc ông Sáu lên đường, cô bé mới nhận cha và đeo chặt lấy ông. Trong những năm tháng ở căn cứ, ông Sáu thương nhớ con vô hạn, cặm cụi làm một chiếc lược bằng ngà voi cho bé Thu như lời hứa khi ra đi. Trước lúc hi sinh, ông chỉ kịp trao chiếc lược ngà cho người bạn để gửi cho con gái, thay lời trăng trối. Sau này, trong một chuyến đi công tác, bác Ba đã tình cờ gặp Thu tại một trạm giao liên ở vùng Đồng Tháp Mười. Thu đã trở thành một cô giao liên dũng cảm, dẫn đoàn cán bộ vượt qua đoạn đường nguy hiểm. Bác Ba đã thực hiện được nguyện vọng cuối cùng của người đồng đội cũ (ông Sáu), trao tận tay cho Thu chiếc lược ngà. Một tình cảm giống như tình cha con đã nảy nở giữa bác Ba với Thu.
·                                Tình huống đã bộc lộ sâu sắc và cảm động tình cha con của ông Sáu và bé Thu:
Ông Sáu vào chiến trường, lúc đi đứa con chưa đầy một tuổi nên con gái ông không biết mặt cha. Hai cha con ông Sáu gặp gỡ sau tám năm xa cách, nhưng bé Thu không nhận ra cha. Đến lúc em nhận ra và biểu lộ tình cảm tha thiết thì ông Sáu lại phải ra đi. ở khu căn cứ, ông Sáu dồn hết tất cả tình thương nhớ con vào việc làm chiếc lược ngà, nhưng ông đã hi sinh khi chưa mang được món quà về cho con gái.
2. Nêu các tác phẩm chính và hoàn cảnh sáng tác Chiếc lược ngà:
            Các tác phẩm tiêu biểu của ông: “Con chim vàng”, “Người quê hương”, “Chiếc lược ngà ”, “Bông cẩm thạch ”,...(truyện ngắn); “Đất lửa”, “Mùa gió chướng”, “Dòng sông thơ ấu”,... (tiểu thuyết).
            Truyện ngắn “Chiếc lược ngà ” được viết vào năm 1966, khi tác giả hoạt động ở chiến trường Nam Bộ trong thời kì kháng chiến chống Mĩ, và được đưa vào trong tập truyện cùng tên.
3. Nêu khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn  “Chiếc lược ngà”.
            Giá trị nội dung: Thể hiện tình cha con sâu nặng, một nét đẹp tâm hồn của một người cán bộ cách mạng trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh.
            Giá trị nghệ thuật: Người kể ở đây là Bác Ba - người bạn thân thiết của ông Sáu, chọn vai kể  này có tác dụng biểu hiện cảm xúc một cách khách quan và đan xen những lời nhận xét, bình luận và đánh giá. Sáng tạo tình huống bất ngờ mà tự nhiên, hợp lí. Thành công trong việc miêu tả tâm lý và xây dựng tính cách nhân vật. Cốt truyện chặt chẽ.
4. Viết một bài văn phân tích diễn biến tâm lý, hành động của bé Thu trong lần ông Sáu về thăm nhà. Qua đó hãy nhận xét về tính cách của nhân vật bé Thu và nghệ thuật miêu tả tâm lý của tác giả.
            Lên chín tuổi, trong tâm trí của bé Thu luôn nuôi dưỡng hình ảnh cha qua tấm hình với má nó đã phai màu. Nó yêu và tôn sùng người cha ấy, vậy mà khi người cha bằng da bằng thịt hẳn hoi xuất hiện thì nó lại khước từ một cách tàn nhẫn. Vừa thấy ông Sáu chạy tới, gọi tên nó, nó đã hốt hoảng, sợ tái mặt, vụt chạy và kêu thét lên : “Má! Má! ” như vừa gặp một chuyện gì chẳng lành. Trong ba ngày ông Sáu ở nhà, nó nhất định không chịu gọi ông Sáu bằng “ba”, luôn nói trống không “Vô ăn cơm” hay gọi là “người ta”, và có những hành động quyết liệt : hất cái trứng cá ba bỏ cho, bơi xuồng sang nhà ngoại...  Những hành động ấy của Thu nhìn bề ngoài có vẻ là hỗn láo, ương ngạnh nhưng thực chất lại hoàn toàn không phải là như thế. Bởi vì trong lòng em chỉ có người cha yêu thương trong tấm ảnh chụp chung với má, vì thế em không thể yêu thương, gần gũi và gọi “ba” với một người xa lạ, một người cha khác đã có vết sẹo trên má như thế được. Khi bỏ về nhà ngoại, được ngoại giải thích rõ, Thu đã giải toả được mối nghi ngờ. Dường như trong em dấy lên một tình cảm mới, yêu thương cha xen lẫn cả sự ân hận : “nghe bà kể nó nằm im, lăn lộn và thỉnh thoảng lại thở dài như người lớn ”.  Vì vậy, buổi sáng hôm sau khi người cha lên đường, tình yêu thương cha và nỗi mong nhớ người cha sau bao nhiêu năm xa cách đã dồn nén, nay bùng lên thật mạnh mẽ, hối hả, xen cả sự hối hận. Tiếng kêu    “Ba... a... Ba ” như xé cả ruột gan người đọc. Sau đó, bé Thu “chạy thót lên, dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó... hôn ba nó cùng khắp... hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa, rồi chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó, nó dang cả hai chân câu chặt lấy ba nó, và đôi vai nhỏ bé của nó run run”
            Qua diễn biến tâm lý và hành động của bé Thu, ta thấy tình cảm của em thật sâu sắc và mạnh mẽ nhưng cũng thật dứt khoát, rành rọt. ở em, còn có nét cá tính cứng cỏi, một bản lĩnh riêng đến mức tưởng chừng ương ngạnh, bướng bỉnh, nhưng thực ra hành động đó vẫn chứng tỏ bé Thu vẫn là một đứa trẻ với tất cả vẻ hồn nhiên, thơ ngây của trẻ con. Diễn tả được tình cảm, tâm lý của Thu như thế chứng tỏ Nguyễn Quang Sáng không chỉ là người am hiểu tâm lý của trẻ thơ mà còn là người am hiểu sâu sắc tính cách của người dân Nam Bộ.
5. Phân tích tình cảm sâu nặng và cao đẹp của ông Sáu đối với con qua đoạn trích.
            Lúc anh đi kháng chiến, đứa con gái của anh chưa đầy một tuổi. Gần chín năm, anh chỉ thấy con qua ảnh, nên anh khao khát một ngày được gặp con, được ôm hôn con. Vì vậy, “Đến lúc được về, cái tình người cha cứ nôn nao trong người anh”. Khi xuống đến bến, “anh nhún chân nhảy thót lên..., bước vội vàng với những bước dài, rồi dừng lại kêu to: - Thu! Con”. “Và với lòng mong nhớ của anh, chắc anh nghĩ rằng con anh sẽ chạy xô vào lòng anh, sẽ ôm chặt lấy cổ anh ”. Không được con nhận mình là cha, ông Sáu vô cùng đau khổ, nhưng ông vẫn kiên nhẫn chờ đợi tình cảm của con : “Suốt ngày anh chẳng đi đâu xa, lúc nào cũng vỗ về con... Anh mong được nghe một tiếng “ba” của con bé ”. Giờ phút chia tay, anh rất muốn ôm con nhưng lại sợ nó bỏ chạy, nên “anh nhìn con với đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu”. Khi nghe tiếng gọi “Ba ” của con gái, ông Sáu xúc động quá đỗi “Không ghìm được xúc động và không muốn cho con thấy mình khóc, anh Sáu một tay ôm con, một tay rút khăn lau nước mắt, rồi hôn lên mái tóc con”. ở nơi công tác, ông thương nhớ con vô vàn, và dồn tất cả tình thương vào việc làm chiếc lược ngà tặng con như đã hứa: “anh cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc”. Và anh “gò lưng, tẩn mẩn” khắc từng nét dòng chữ chứa chan tình yêu thương đối với con : “Yêu nhớ tặng Thu con của ba ”. Chiếc lược ngà đã thành một vật quý giá thiêng liêng với ông Sáu. Nó làm dịu đi nỗi ân hận và chứa đựng bao nhiêu tình cảm yêu mến, nhớ thương, mong đợi của người cha với đứa con xa cách. Trước khi hi sinh, ông không còn đủ sức để trăng trối, chỉ kịp gửi lại vật kỉ niệm thiêng liêng đó cho con. Tình cha con của ông không thể chết!Tất cả đã thể hiện tình cảm yêu thương con vô cùng sâu sắc của ông Sáu. Câu chuyện còn gợi ta hiểu về tình cảm gia đình cao đẹp, thấm thía những nỗi mất mát, đau thương của những người cán bộ cách mạng mạng đã hi sinh vì Tổ quốc.
6. Truyện được kể ở ngôi thứ mấy? Ai là người kể chuyện? Cách chọn vai kể như vậy có tác dụng gì trong việc xây dựng nhân vật và thể hiện nội dung tư tưởng của truyện?
            Truyện ngắn “Chiếc lược ngà ” được kể ở ngôi thứ nhất. Lời kể là của một chiến sĩ cách mạng - người bạn thân thiết của ông Sáu. Người bạn đó vừa chứng kiến những cảnh hội ngộ éo le đầy xúc động của cha con ông Sáu, vừa bày tỏ sự đồng cảm, chia sẻ với các nhân vật. Qua cảm xúc của người kể, những chi tiết, sự việc, nhân vật trong truyện được tái hiện sinh động, sắc nét, gây xúc động mạnh đối với người  đọc và góp phần thể hiện trọn vẹn nội dung của truyện.  Hơn nữa, cách chọn vai kể như vậy khiến cho câu chuyện trở nên đáng tin cậy, xác thực. Người kể hoàn toàn chủ động điều khiển nhịp kể theo trạng thái cảm xúc của mình, chủ động xen vào những suy nghĩ, ý kiến để dẫn dắt sự tiếp nhận của người đọc: “Trong cuộc đời kháng chiến của tôi, tôi chứng kiến không biết bao nhiêu cuộc chia tay, nhưng chưa bao giờ tôi bị xúc động như lần ấy... Cây lược ngà ấy chưa chải được mái tóc của con, nhưng nó như gỡ rối được phần nào tâm trạng của anh.”

Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga:
1. Nêu khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga”.
            Giá trị nội dung: Đoạn trích thể hiện khát vọng hành đạo giúp đời của tác giả và khắc hoạ những phẩm chất đẹp đẽ của hai nhân vật: Lục Vân Tiên tài ba, dũng cảm, trọng nghĩa khinh tài; Kiều Nguyệt Nga hiền hậu, nết na, ân tình. Ca ngợi người anh hùng nghĩa hiệp, đề cao tinh thần cứu khó phò nguy, xem trọng tình cảm con người.
            Giá trị nghệ thuật: Ngôn ngữ mộc mạc, bình dị gần với lời nói thông thường, mang màu sắc địa phương Nam Bộ. Nó có phần thiếu trau chuốt, uyển chuyển nhưng lại phù hợp với ngôn ngữ thông thường của người kể chuyện rất tự nhiên và dễ đi vào quần chúng. Ngôn ngữ thơ đa dạng, phù hợp với từng diễn biến tình tiết: Lời của Vân Tiên với bọn cướp đầy phẫn nộ. Lời của tên tướng cướp hống hách, kiêu căng. Lời của Vân Tiên và Nguyệt Nga nói với nhau thì mềm mỏng, xúc động và chân thành.
2.  Đọc đoạn trích, em cảm nhận Lục Vân Tiên là một con người như thế nào? Hãy phân tích những phẩm chất của nhân vật qua hành động đánh cướp và qua cách cư xử với Kiều Nguyệt Nga:
            Có quan niệm sống: làm việc nghĩa là một bổn phận, một lẽ tự nhiên. Có hành động chính trực, hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài. Đó là cách cư xử mang tinh thần nghĩa hiệp của các bậc anh hùng hảo hán. Lại rất từ tâm, nhân hậu. Với những nét tính cách đó, hình ảnh Lục Vân Tiên là một hình ảnh đẹp mang tính lý tưởng hoá mà Nguyễn Đình Chiểu gửi gắm niềm tin và ước vọng của mình.
o                                                       Phẩm chất của Lục Vân Tiên qua hành động đánh cướp cứu Kiều Nguyệt Nga:
Hành động đánh cướp trước hết bộc lộ tính cách anh hùng, tài năng và tấm lòng vị nghĩa của Vân Tiên. Chàng chỉ có một mình tay không trong khi bọn cướp đông người, gươm giáo đủ đầy, thanh thế lẫy lừng. Vậy mà Vân Tiên vẫn “bẻ cây làm gậy nhằm làng xông vô ” đánh cướp. Hình ảnh Vân Tiên trong trận đánh được miêu tả thật đẹp. Đó là vẻ đẹp của một dũng tướng theo phong cách văn chương thời xưa. Nghĩa là chàng được so sánh với  những mẫu hình lý tưởng như dũng tướng Triệu Tử Long đánh quân Tào Tháo trong “Tam quốc chí ” của La Quán Trung. Hành động của Vân Tiên chứng tỏ cái đức của con người “vị nghĩa vong thân”, cái tài của bậc anh hùng và sức mạnh bênh vực kẻ yếu, chiến thắng những thế lực bạo tàn.
o                                                       Thái độ cư xử với Kiều Nguyệt Nga sau khi đánh cướp:
Thấy hai cô gái còn chưa hết hãi hùng, Vân Tiên động lòng tìm cách an ủi họ ( “Ta đã trừ dòng lâu la”) và ân cần hỏi han.         Khi nghe họ nói muốn được lạy tạ ơn, Vân Tiên vội gạt đi ngay          ( “Khoan khoan ngồi đó chớ ra”). Dù ở đây có phần câu nệ lễ giáo phong kiến (nam nữ không được gần gũi, động chạm vào nhau), nhưng chủ yếu vẫn là do đức tính khiêm nhường của Vân Tiên: “Làm ơn há dễ trông người trả ơn”. Chàng không muốn nhận cái lạy tạ ơn của hai cô gái, từ chối lời mời  về thăm nhà của Nguyệt Nga để cha nàng đền đáp. Và ở đoạn sau chàng còn từ chối nhận chiếc trâm vàng của nàng, chỉ cùng nhau xướng hoạ một bài thơ rồi thanh thản ra đi, không hề vương vấn. Rõ ràng, thái độ cư xử của Lục Vân Tiên với Kiều Nguyệt Nga sau khi đánh cướp đã bộc lộ tư cách của con người chính trực, hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài, cũng rất từ tâm, nhân hậu. Dường như đối với Vân Tiên, làm việc nghĩa là một bổn phận, một lẽ tự nhiên, con người trọng nghĩa khinh tài ấy không coi đó là công trạng. Đây cũng là cách cư xử mang tinh thần nghĩa hiệp của người anh hùng hảo hán xưa kia.
            =>Nhân vật trong đoạn trích được miêu tả chủ yếu qua hành động, ngôn ngữ và cử chỉ. Điều đó cho ta thấy “Truyện Lục Vân Tiên” gần giống với loại truyện cổ tích Việt Nam, đặc biệt là truyện  cổ tích “Thạch Sanh” (đã học).

Hoàng Lê nhất thống chí (Hồi thứ 14) - Ngô gia văn phái
1. Tóm tắt Hồi thứ 14 “Hoàng Lê nhất thống chí ” và cho biết ý nghĩa nhan đề tác phẩm:
            Tôn Sĩ Nghị dễ dàng đưa quân vào Thăng Long, quân lính kiêu căng, chủ quan mà không biết quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy đang tiến quân ra Bắc. Thấy tình hình địch chủ quan, Nguyễn Huệ đã lên ngôi Hoàng Đế vào ngày 25 tháng Chạp, ông lấy hiệu là Quang Trung, bắt đầu tiến quân ra Bắc Hà. Ngày 29 đến Nghệ An, vừa đi vừa tuyển mộ binh lính được hơn một vạn quân tinh nhuệ. Quang Trung mở một cuộc duyệt binh lớn, đọc lời dụ tướng sĩ. Ngày 30 tháng 12, ông mở tiệc khao quân ăn Tết trước. Đêm 30 tháng 12 lên đường, hẹn ngày mồng 7 tiến vào Thăng Long. Nghĩa quân đi đến đâu, tiêu diệt gọn quân địch đế đó. Ngày mồng 3 tháng 1, quân Tây Sơn chiếm đồn Hạ Hồi, mờ sáng ngày mồng 5, chiếm đồn Ngọc Hồi. Quân Thanh ở thành Thăng Long không hề hay biết. Tôn Sĩ Nghị và vua Lê Chiêu Thống cho quân tưng bừng ăn Tết. Quang Trung tiến vào, quân nhà Thanh không chống đỡ nổi đành bỏ chạy, chen chúc nhau mà chết. Lê Chiêu Thống chạy theo nhà Thanh đến cửa ải, Nghị đã khuyên vua Lê Chiêu Thống tạm lánh nạn rồi trở về nước.
            ý nghĩa nhan đề tác phẩm: “Hoàng Lê nhất thống chí ” là ghi chép lại sự thống nhất của vương triều nhà Lê vào thời điểm Tây Sơn diệt Trịnh, trả lại Bắc Hà cho vua Lê.
2. Chỉ ra bố cục của Hồi thứ 14 “Hoàng Lê nhất thống chí ”.
            Phần 1 (Từ đầu đến “... hôm ấy nhằm vào ngày 25 tháng chạp năm Mậu Thân (1788).”) : Được tin báo quân Thanh chiếm Thăng Long, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế và thân chinh cầm quân dẹp giặc.
            Phần 2 (Tiếp theo đến “... vua Quang Trung tiến binh đến Thăng Long, rồi kéo vào thành.”) : Cuộc hành quân thần tốc và chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung.
            Phần 3 (phần còn lại) : Sự đại bại của quân tướng nhà Thanh và tình trạng thảm hại của vua tôi Lê Chiêu Thống.
3. Nêu khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của Hồi thứ 14 “Hoàng Lê nhất thống chí ”.
            Nội dung: Với quan điểm lịch sử đúng đắn và niềm tự hào dân tộc, các tác giả “Hoàng Lê nhất thống chí ” đã tái hiện chân thực hình ảnh người anh hùng dân tộc Quang Trung - Nguyễn Huệ qua chiến công thần tốc đại phá quân Thanh, sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi thảm của vua tôi Lê Chiêu Thống. Nghệ thuật: Giọng kể và tả khách quan nhưng vẫn ngầm mỉa mai khi tả bọn Tôn Sĩ Nghị và sự phấn chấn khi diễn tả chiến thắng của quân Tây Sơn.
4. Qua đoạn trích “Hoàng Lê nhất thống chí ”(hồi thứ 14) em hãy nêu cảm nhận của em về hình ảnh người anh hùng Quang Trung - Nguyễn Huệ.
            Đoạn trích đã xây dựng hình ảnh người anh hùng áo vải có một không hai trong lịch sử dân tộc. Đoạn trích đã xây dựng hình ảnh người anh hùng áo vải có một không hai trong lịch sử dân tộc. Từ đầu đến cuối đoạn trích, Nguyễn Huệ luôn thể hiện là con người hành động mạnh mẽ, nhanh gọn, có chủ đích và rất quả quyết: Nghe tin giặc chiếm đến tận Thăng Long, mất cả một vùng đất rộng lớn nhưng vẫn không hề nao núng, lại “định thân chinh cầm quân đi ngay”. Trong một thời gian ngắn, hơn một tháng (từ ngày 24 tháng 11 đến 30 tháng Chạp), Nguyễn Huệ đã làm nhiều việc như:
        _ “Tế cáo trời đất”lên ngôi Hoàng Đế.
        _  Đốc xuất đại binh ra bắc.
        _  Gặp gỡ “người cống sĩ ở huyện La Sơn”.
        _  Tuyển mộ quân lính và mở cuộc duyệt binh lớn ở Nghệ An.
        _  Phủ dụ tướng sĩ, định kế hoạch hành quân, đánh giặc và cả kế hoạch đối phó với nhà Thanh sau chiến thắng.
            Ông còn là một con người sáng suốt và nhạy bén: Ngay khi mấy vạn quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy hùng hổ kéo vào nước ta, thế giặc đang mạnh, tình thế khẩn cấp, vận mệnh đất nước “ngàn cân treo sợi tóc”. Nguyễn Huệ đã quyết định lên ngôi Hoàng Đế để chính danh vị, để cho nghĩa quân có niềm tin. Ông lấy niên hiệu là Quang Trung. Việc lên ngôi vua đã được tính kĩ lưỡng với mục đích thống nhất nội bộ, hội tụ anh em tài giỏi, quan trọng hơn là để “yên kẻ phản trắc và giữ lấy lòng người ”, được nhân dân ủng hộ Ông cũng vô cùng sáng suốt trong việc phân tích tình hình thời cuộc và thế tương quan chiến lược giữa địch và ta (được thể hiện rất rõ qua lời phủ dụ quân lính ở Nghệ An). Quang Trung đã chỉ rõ: “đất nào sao ấy”, “người phương Bắc không phải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt khác”. Ông đã khẳng định chủ quyền dân tộc của ta và lên án hành động xâm lăng phi nghĩa, làm trái đạo trời của giặc phương Bắc. Ông còn tố cáo tội ác của chúng đối với nhân dân ta: “Từ đời nhà Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp nước ta, giết hại nhân dân ta, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi ai cũng muốn đuổi chúng đi ”. Quang Trung đã khích lệ tướng sĩ dưới quyền bằng những tấm gương chiến đấu quả cảm chống giặc ngoại xâm của ông cha ta từ ngàn xưa như: Trưng nữ vương, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành. Quang Trung đã dự kiến việc Lê Chiêu Thống về nước có thể làm cho mọi người phù Lê “thay lòng đổi dạ” với mình nên ông đã có lời dụ với quân lính vừa chí tình vừa nghiêm khắc: ông đã kêu gọi quân lính “đồng tâm hiệp lực” và ra kỉ luật nghiêm, “các ngươi đều là những kẻ có lương tri, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực dựng lên công lớn. Chớ có quen thói cũ ăn ở hai lòng, nếu như việc này bị phát giác, không tha một ai.”  Quang Trung còn là người sáng suốt trong việc xét đoán bQua những lời nói ta thấy rõ: ông rất hiểu việc rút quân của hai vị tướng giỏi này. Đúng ra thì: “Quân thua tại tướng” nhưng ông hiểu lòng họ, sức mình ít, không địch nổi quân hùng tướng hổ nhà Thanh nên đành phải bỏ thành Thăng Long rút về Tam Điệp để tập hợp lực lượng. Vậy Sở và Lân không bị trừng phạt mà còn được ngợi khen. Đối với Ngô Thì Nhậm, ông đánh giá rất cao và sử dụng như một vị quân sư “Đa mưu túc trí ”. Việc Sở và Lân rút chạy, Quang Trung cũng đoán là do Nhậm chủ mưu. Ông đã tính đến việc dùng Nhậm là người biết dùng lời khéo léo để dẹp việc binh đao. Điều này chứng tỏ ông rất hiểu sở trường, sở đoản của các tướng sĩ, khen chê đều đúng người, đúng việc,... khiến tất cả quân tướng nể phục.ề tôi, cách dùng người, điều đó thể hiện rất rõ qua cách xử trí với các tướng sĩ tại Tam Điệp. Quang Trung có ý chí quyết thắng và tầm nhìn xa trông rộng: Điều này thể hiện rất rõ ở chỗ, mới khởi binh đánh giặc, chưa dành được tấc đất nào, vậy mà vua Quang Trung đã nói như đinh đóng cột là “phương lược tiến đánh đã có tính sẵn”. Đang ngồi trên lưng ngựa, Quang Trung đã nói với Nhậm về quyết sách ngoại giao và kế hoạch đối với địch trong 10 năm tới đối với địch, thường chỉ biết “thắng việc binh đao thì không thể dứt ngay được”. Nếu mười năm nữa ta đã được yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng, bấy giờ, nước giàu quân mạnh thì ta có sợ gì chúng. Ông cho khao quân ăn Tết sớm, và hẹn sẽ chiếm lại Thăng Long ngày mồng 7 năm tới. Và trong thực tế sau đó, chiến thắng đã đến sớm hơn cả ngày hẹn. Ông là người có tài  thao lược hơn người: Ngày 25 tháng Chạp bắt đầu xuất quân ở Phú Xuân (Huế) thì ngày 29 đã tới Nghệ An. Tại Nghệ An, vừa tuyển quân, vừa tổ chức đội ngũ, vừa duyệt binh lớn nhưng chỉ thực hiện trong một ngày. Hôm sau, tiến quân ra Tam Điệp, hợp quân, ra kế hoạch chiến đấu. Đêm 30 tháng ChạpHành quân xa liên tục với quy mô rất lớn mà cơ nào đội ấy vẫn chỉnh tề, chiến đấu nhịp nhàng, hiệu quả, trong khi đó có đến một vạn quân mới tuyển trước đó vài ngày.  lên đường, tiến quân ra Thăng Long, vừa hành quân, vừa đánh giặc để chiến thắng chỉ trong năm ngày. Cuộc hành quân thần tốc do Quang Trung chỉ huy đến nay vẫn làm ta kinh ngạc. Vừa hành quân, vừa đánh giặc thế mà Quang Trung đã hoạch định kế hoạch từ ngày 25 tháng Chạp đến mồng 7 tháng Giêng sẽ vào ăn Tết ở Thăng Long, mà thực tế đã vượt trước hai ngày  Hình ảnh vị vua lẫm liệt trong chiến trận: Vua Quang Trung thân chinh cầm quân không phải chỉ trên danh nghĩa. Ông làm tổng chỉ huy chiến dịch thực sự. Dưới sự lãnh đạo tài tình của vị tổng chỉ huy này, nghĩa quân Tây Sơn đã đánh những trận thật đẹp, thắng áp đảo kẻ thù. Khí thế đội quân làm cho kẻ thù khiếp vía và hình ảnh người anh hùng cũng được khắc hoạ lẫm liệt trong cảnh “khói toả mù trời, cách gang tấc không thấy gì ” nổi bật là hình ảnh nhà vua cưỡi voi đi đốc thúc với tấm áo bào màu đỏ đã sạm đen khói súng. Hình ảnh người anh hùng được khắc hoạ đậm nét với tính cách mạnh mẽ, với trí tuệ sáng suốt, nhạy bén, với tài dụng binh như thần. Ông vừa là người tổ chức, vừa là linh hồn của những chiến công vĩ đại.
5. Theo em tại sao các tác giả vốn là những người có cảm tình với nhà Lê lại có thể viết thực và hay như thế về người anh hùng Nguyễn Huệ?
            Các tác giả Ngô gia văn phái dù là những cựu thần chịu ân sâu nghĩa nặng của nhà Lê nhưng vì họ tôn trọng hiện thực và có ý thức dân tộc sâu sắc nên đã không thể bỏ qua sự thực khi tả ông vua nhà Lê hèn yếu đã cõng rắn cắn gà nhà và xem chiến công lẫy lừng của vua Quang Trung là niềm tự hào lớn lao của cả dân tộc. Bởi vậy họ đã phản ánh lịch sử một cách trung thực và viết về người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ với một cảm hứng ngợi ca.